A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Văn hóa kiểm tra - Nền tảng làm nên bản lĩnh và uy tín của Ngành Kiểm tra Đảng

Trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, có những yêu cầu được xác định bằng nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình, hồ sơ, chứng cứ; cũng có những giá trị được hình thành qua rèn luyện, trải nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp: Sự trung thực trước sự thật, liêm chính trước lợi ích, tỉnh táo trước sức ép, thận trọng khi xem xét trách nhiệm, thái độ đối với danh dự và sinh mệnh chính trị của đồng chí mình, cùng với tác phong công vụ kỷ cương, tận tụy, phối hợp và chịu trách nhiệm đến cùng về công việc được giao. Tổng hòa những giá trị ấy làm nên văn hóa kiểm tra.

Văn hóa kiểm tra không phải một yếu tố phụ đứng bên cạnh nghiệp vụ. Đó là nền tảng bên trong, định hướng cách thực hiện quyền kiểm tra mà Đảng giao; làm cho nguyên tắc được giữ vững, nghiệp vụ được tiến hành khoa học, quyền lực được sử dụng có trách nhiệm, kỷ luật bảo đảm nghiêm minh và mỗi kết luận có sức thuyết phục.

Trải qua 78 năm xây dựng và trưởng thành, những giá trị nghề nghiệp đặc thù của Ngành Kiểm tra Đảng đã được hình thành, thử thách và trao truyền qua nhiều thế hệ. Kỷ niệm Ngày truyền thống năm nay (16/10/1948-16/10/2026), hướng tới dấu mốc 80 năm, nhìn lại chặng đường ấy là để tự hào, biết ơn người đi trước và nhận diện rõ những giá trị phải tiếp tục gìn giữ trong giai đoạn phát triển mới, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ văn hóa Đảng đến văn hóa của Ngành Kiểm tra

Đặt trong công tác xây dựng Đảng, văn hóa kiểm tra là một biểu hiện đặc thù của văn hóa Đảng; được hình thành trên nền tảng những giá trị văn hóa Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và những chuẩn mực của một Đảng cách mạng cầm quyền; đồng thời mang những yêu cầu riêng của lĩnh vực kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật - nơi quyền lực được sử dụng để xem xét việc thực hiện quyền lực, nơi mỗi nhận định có thể liên quan trực tiếp đến uy tín của tổ chức, danh dự, trách nhiệm và sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên.

Văn hóa Ngành được biểu hiện trong truyền thống, thể chế, quy trình, phương pháp làm việc, chất lượng công tác, môi trường cơ quan và tri thức, phẩm chất của mỗi cán bộ.

Các nghị quyết, quy định, kết luận mới của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên hiện đang tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ để quyền kiểm tra được thực hiện đúng nguyên tắc, thẩm quyền và trách nhiệm. Thể chế càng hoàn thiện thì yêu cầu đối với văn hóa thực thi quyền lực càng cao.

Một ngành công tác có văn hóa cũng phải được đánh giá bằng chất lượng và hiệu quả hoạt động. Văn hóa kiểm tra phải được đo bằng khả năng giúp Đảng phát hiện đúng vấn đề, phòng ngừa vi phạm, làm rõ bản chất và trách nhiệm, giữ nghiêm kỷ luật, bảo vệ người đúng và làm cho công việc sau kiểm tra chuyển biến tốt hơn. Hiệu quả hoạt động của cán bộ và của Ngành là một thành tố cấu thành văn hóa kiểm tra.

Thể chế tạo khuôn khổ, tổ chức tạo môi trường, truyền thống tạo điểm tựa; mỗi cán bộ hiện thực hóa những giá trị ấy trong từng hồ sơ, chứng cứ, buổi làm việc và câu chữ kết luận.

Những giá trị được các thế hệ cán bộ kiểm tra trao truyền

Ngày 16/10/1948, Ban Kiểm tra Trung ương được thành lập. Từ buổi đầu của cuộc kháng chiến đến công cuộc đổi mới và hôm nay, nhiều thế hệ lãnh đạo, cán bộ kiểm tra ở Trung ương và địa phương đã cùng tạo nên truyền thống của Ngành. Những câu chuyện sau đây chỉ là vài lát cắt để thấy các giá trị ấy được hình thành, thử thách và trao truyền trong công việc.

Đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương đầu tiên của Đảng, là người mở đường của Ngành.

Vụ tình nghi “Gián điệp H122” là một minh chứng đặc biệt cho phong cách làm việc khách quan, thận trọng, lấy sự thật và chứng cứ làm căn cứ của đồng chí Trần Đăng Ninh. Vụ H122 xảy ra năm 1948, bắt đầu từ thông tin nghi có gián điệp mang bí số H122 xâm nhập cơ quan của ta ở Liên khu Việt Bắc. Quá trình xem xét ban đầu đã khiến nhiều người bị nghi oan. Trước một vụ việc đã bị đẩy đi rất xa bởi nghi kỵ và những lời khai thiếu căn cứ, đồng chí Trần Đăng Ninh nhận thấy nhiều điểm mâu thuẫn, trực tiếp kiểm tra thực tế, yêu cầu thẩm tra cụ thể, tránh suy diễn tùy tiện. Kết quả xác minh đã làm rõ bản chất vụ việc, giải oan cho nhiều cán bộ, quần chúng bị liên đới.

Gần tám thập kỷ đã qua, nhưng bài học của vụ H122 vẫn rất gần với người làm kiểm tra hôm nay: nghi vấn không thể thay chứng cứ; lời nhận không thể thay trách nhiệm thẩm tra, xác minh; một nhận định ban đầu càng không được trở thành định kiến dẫn dắt cả quá trình xem xét.

Đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương từ năm 1956 đến 1976, góp phần đặt nền móng về nguyên tắc, phương pháp và đội ngũ cán bộ kiểm tra.

Ở đồng chí Nguyễn Lương Bằng nổi bật nhân cách của một người cộng sản kiên trung, liêm khiết, giản dị, gần gũi và sâu sát thực tiễn. Trong lãnh đạo công tác kiểm tra, đồng chí đặc biệt đề cao nguyên tắc, tính thường xuyên, đường lối quần chúng và yêu cầu đi sâu cơ sở. Đồng chí yêu cầu việc xem xét phải nghiêm khắc nhưng thận trọng, phân biệt đúng bản chất và mức độ của từng vụ việc; thi hành kỷ luật phải gắn với giáo dục, phòng ngừa, với tinh thần “ngăn trước ngừa sau, trị bệnh cứu người”. Đối với cán bộ kiểm tra, đồng chí đặt yêu cầu rất cao về bản lĩnh, trình độ, tinh thần trách nhiệm và liêm chính, đến mức nhấn mạnh người làm kiểm tra “phải liêm khiết hơn mọi người”.

Trong những năm đầu đổi mới, đồng chí Trần Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương lãnh đạo công tác kiểm tra trước nhiều vấn đề mới.

Những năm đầu đổi mới đặt ra nhiều vấn đề mới về tư duy quản lý, về trách nhiệm, đổi mới cách làm và đấu tranh với tiêu cực. Trong bối cảnh ấy, một quan điểm của đồng chí Trần Kiên được nhiều thế hệ cán bộ kiểm tra nhắc lại: Đấu tranh chống tiêu cực để làm gì, nếu không đồng thời bảo vệ được người tích cực.

Lịch sử Ngành còn được viết bởi biết bao người không có tên trong những trang sử. Đó còn là những cán bộ bám địa bàn giữa bom đạn; những người lặng lẽ đi gặp nhân chứng, kiểm tra tài liệu, giữ kín điều cần giữ kín, nói rõ điều phải nói rõ; những người chịu sức ép của quan hệ quen biết hoặc lợi ích mà vẫn làm đúng trách nhiệm. Có những cống hiến không được kể thành chiến công, nhưng lắng lại trong một kết luận công tâm, một cán bộ được minh oan, một tổ chức kịp sửa sai. Tri ân các thế hệ đi trước chính là tiếp tục làm công việc của mình xứng đáng với sự tận tụy ấy.

Từ những người đặt nền móng đến các thế hệ kế tục, văn hóa Ngành được bồi đắp bằng sự trung thực, liêm khiết, thận trọng, tính chiến đấu và trách nhiệm hướng công tác kiểm tra vào mục đích xây dựng.

Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống, Ban Chấp hành Trung ương đã tặng Ngành Kiểm tra Đảng bức trướng mang dòng chữ: “TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH, ĐOÀN KẾT, TRUNG THỰC, LIÊM KHIẾT, KỶ CƯƠNG VÀ TẬN TỤY”.

Truyền thống được tiếp nối trong những nhiệm vụ gần đây

Trong những năm gần đây, Ngành Kiểm tra Đảng phải xử lý đồng thời nhiều việc khó: kiểm tra, xử lý các vụ việc lớn, phức tạp chưa từng có tiền lệ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phục vụ đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng; giám sát việc sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp và thực hiện các chủ trương lớn của Đảng. Đằng sau kết quả ấy là bản lĩnh đối diện với vấn đề khó, tinh thần không né tránh và yêu cầu giữ công tâm trước sức ép về tiến độ, chứng cứ.

Kết quả nhiệm kỳ Đại hội XIII cho thấy quy mô công việc của cả hệ thống: Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp đã kiểm tra 232.401 tổ chức đảng, 1.284.298 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 13.612 tổ chức đảng, 38.378 đảng viên. Cấp ủy, chi bộ và ủy ban kiểm tra các cấp cũng đã giám sát chuyên đề hàng trăm nghìn tổ chức đảng, đảng viên. Bên cạnh kết quả phát hiện, xử lý, công việc còn tiếp tục sau kết luận: các cấp ủy đã khắc phục 619 trong 707 tồn tại, hạn chế được chỉ ra qua kiểm tra; 777 trong 1.047 kiến nghị đã được giải quyết. Những con số chỉ phản ánh một mặt của công việc; giá trị văn hóa còn nằm ở việc xem xét đúng bản chất, xử lý có căn cứ và kiên trì thúc đẩy sửa chữa trong thực tế.

Giám sát việc thực hiện chủ trương, nghị quyết ngay từ đầu cũng được đẩy mạnh. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành lập 60 đoàn kiểm tra đối với 172 tổ chức đảng; năm 2026, Ủy ban Kiểm tra Trung ương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành lập 22 đoàn kiểm tra, giám sát đối với 40 tổ chức đảng trực thuộc Trung ương. Cùng với hoạt động kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, cách làm chủ động này góp phần nhận diện khó khăn, sơ hở trong tổ chức thực hiện để kịp thời chấn chỉnh, kiến nghị tháo gỡ. Văn hóa kiểm tra thể hiện ở trách nhiệm phòng ngừa từ sớm và sự kiên trì theo dõi đến khi kết luận được thực hiện, khuyết điểm được khắc phục.

Chuyển đổi số của Ngành Kiểm tra Đảng đang được triển khai theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan đảng được Ban Bí thư phê duyệt tại Quyết định số 204-QĐ/TW và Kế hoạch số 04 ngày 23/3/2026 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Ngày 22/9/2026, Ủy ban Kiểm tra Trung ương ban hành Quyết định số 157-QĐ/UBKTTW về ba quy trình nghiệp vụ lõi trên môi trường số: xây dựng chương trình công tác, chương trình kiểm tra, giám sát; thực hiện kiểm tra, giám sát và xem xét, thi hành kỷ luật đảng; giám sát thường xuyên. Các quy trình áp dụng tại Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương và là cơ sở để ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện phù hợp với thẩm quyền, điều kiện của mình. Từ Trung ương đến cơ sở, việc số hóa hồ sơ, xây dựng dữ liệu và đưa quy trình nghiệp vụ lên môi trường số đòi hỏi tác phong khoa học, chia sẻ tri thức và phối hợp chặt chẽ hơn. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi dữ liệu được kiểm chứng, thẩm quyền được tôn trọng và con người chịu trách nhiệm đến cùng với nhận định của mình.

Văn hóa kiểm tra phải đi vào từng hoạt động nghiệp vụ

Giá trị chung chỉ trở thành văn hóa khi được thực hành ở từng khâu: chọn đúng vấn đề, sử dụng đúng thẩm quyền, kiểm chứng chứng cứ, lắng nghe các bên, viết kết luận công tâm và theo dõi đến cùng khi kiến nghị được thực hiện. Mỗi quyết định nghiệp vụ đều có thể củng cố hoặc làm suy giảm niềm tin đối với Ngành.

Trước hết là phát hiện đúng và phòng ngừa từ sớm.

Giám sát thường xuyên đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát địa bàn, lĩnh vực, nắm chắc tình hình, biết nhận diện những vấn đề cần quan tâm. Sâu sát không đồng nghĩa với soi xét mọi việc của cán bộ, đảng viên. Người có kinh nghiệm phải biết phân biệt giữa thông tin cần tiếp tục theo dõi, vấn đề cần nhắc nhở, cảnh báo và dấu hiệu cần được xem xét theo nhiệm vụ kiểm tra.

Giám sát và kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm có căn cứ, mục đích, thẩm quyền và phương pháp khác nhau. Khi chưa đủ cơ sở thì không được biến hoạt động giám sát thành một cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; khi dấu hiệu đã rõ và thuộc thẩm quyền thì cũng không thể kéo dài việc “theo dõi” để né tránh trách nhiệm.

Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ thể hiện rõ tính chiến đấu, vì vậy yêu cầu khách quan, công tâm và thận trọng phải được đặt ở mức rất cao. Bản lĩnh của người cán bộ kiểm tra không nằm ở việc sớm đưa ra một nhận định mạnh, mà ở khả năng đi đến cùng sự thật, kể cả khi kết quả thẩm tra, xác minh buộc phải thay đổi nhận định ban đầu. Không né tránh cán bộ có chức vụ, lĩnh vực nhạy cảm hay vụ việc phức tạp; nhưng cũng không được bước vào một cuộc kiểm tra với kết luận có sẵn rồi tìm tài liệu để chứng minh điều đã nghĩ.

Thông tin dư luận, phản ánh của cán bộ, đảng viên và nhân dân, báo chí, tài liệu của cơ quan khác hoặc chỉ báo từ dữ liệu đều có thể là nguồn thông tin để nghiên cứu, đối chiếu và thẩm tra, xác minh theo quy định. Giá trị của từng nguồn phải được đánh giá đúng tính chất. Thông tin chưa phải là chứng cứ; dấu hiệu chưa phải là kết luận.

Khi tài liệu còn mâu thuẫn phải tiếp tục làm rõ. Khi chứng cứ chưa đầy đủ thì chưa đủ cơ sở kết luận. Tài liệu cho thấy có vi phạm và những tài liệu có ý nghĩa loại trừ hoặc làm thay đổi trách nhiệm đều phải được xem xét khách quan. 

Công tác kiểm tra của Đảng diễn ra giữa những tổ chức và những người cùng đứng trong hàng ngũ của Đảng, cùng chịu sự điều chỉnh của Điều lệ, nguyên tắc và kỷ luật Đảng. Vì thế, thẩm tra, xác minh không phải là một cuộc đấu trí để buộc đối tượng phải thừa nhận điều đoàn kiểm tra đã nghĩ. Cần nhấn mạnh tính đảng và tính nhân văn trong quan hệ kiểm tra; phương pháp công tác phải tôn trọng tổ chức đảng, đảng viên, không sử dụng “thủ thuật”, không áp đặt, truy ép hay gợi ý giải trình theo ý chủ quan.

Người cán bộ phải biết lắng nghe mà không xuê xoa, biết chất vấn nhưng vẫn giữ sự tôn trọng, kiên quyết mà không trịch thượng. Khi đối tượng có ý kiến khác, việc cần làm là kiểm tra căn cứ, tài liệu và tiếp tục xác minh nếu cần; không thể lấy vị trí của người đi kiểm tra thay cho lý lẽ và chứng cứ.

Có những lúc chính phong cách của cán bộ quyết định không khí của cả cuộc làm việc. Một lời nói thiếu kiềm chế có thể làm hai bên rơi vào tâm thế đối đầu. Sự bình tĩnh, công tâm, cách đặt câu hỏi đúng và chứng cứ đủ sức thuyết phục có thể giúp người có khuyết điểm nhận ra sai để sửa; cũng có thể giúp một cán bộ bị phản ánh không đúng được bảo vệ.

Trong giải quyết tố cáo, yêu cầu ấy càng rõ: người tố cáo phải được tôn trọng, bảo vệ theo quy định và thông tin phải được giữ bí mật; đồng thời danh dự, quyền và lợi ích chính đáng của người bị tố cáo cũng phải được bảo vệ. Nội dung tố cáo đúng phải được làm rõ; nội dung không đúng cũng phải được kết luận rõ ràng để bảo đảm công bằng cho người bị tố cáo.

Trong xem xét, thi hành kỷ luật, văn hóa kiểm tra thể hiện ở sự thống nhất giữa nghiêm minh và nhân văn. Nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả và các tình tiết liên quan phải được xem xét đầy đủ; trách nhiệm tập thể và cá nhân phải được phân định rõ. Kỷ luật phải đúng người, đúng vi phạm, đúng thẩm quyền, tương xứng và có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, phòng ngừa. Nhân văn không phải là nương nhẹ; nghiêm minh cũng không đồng nghĩa với cứng nhắc. “Trị bệnh cứu người” chỉ có ý nghĩa khi vi phạm được xác định đúng và việc xử lý giúp tổ chức, đảng viên nhận rõ khuyết điểm, sửa chữa, tiến bộ.

Người khiếu nại không vì thực hiện quyền khiếu nại mà bị định kiến. Quyết định đúng phải được giải thích bằng căn cứ để đảng viên hiểu và chấp hành; nếu qua xem xét thấy kết luận hoặc hình thức kỷ luật chưa chính xác thì phải sửa theo thẩm quyền.

Báo cáo, kết luận kiểm tra không có chỗ cho sự đại khái. Một từ dùng quá mức có thể làm thay đổi tính chất của nhận định. Một câu thiếu chặt chẽ có thể nhập nhằng trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân. Một cụm từ chưa đủ chứng cứ để sử dụng có thể ảnh hưởng đến đánh giá về một cán bộ trong nhiều năm.

Viết đúng, viết đủ, đúng phạm vi và mức độ đã được chứng minh chính là tôn trọng sự thật, tôn trọng tổ chức và con người đang được xem xét. Việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiếp tục chuẩn hóa hệ thống mẫu văn bản nghiệp vụ theo Quyết định số 2051-QĐ/UBKTTW, ngày 29/8/2025 cũng góp phần chuẩn hóa cách thể hiện kết quả công tác trong toàn Ngành.

Điều đáng quan tâm sau một cuộc kiểm tra là khuyết điểm đã được khắc phục chưa, trách nhiệm đã được thực hiện chưa, cơ chế bất cập đã được sửa chưa và nguy cơ tương tự có còn tái diễn hay không. Quy trình nghiệp vụ hiện hành cũng xác định trách nhiệm theo dõi việc chấp hành kết luận sau kiểm tra.

Văn hóa tự kiểm soát quyền lực trong Ngành Kiểm tra

Một ngành được Đảng giao kiểm tra việc thực thi quyền lực phải xây dựng được nếp tự kiểm soát quyền lực của chính mình. Phân định thẩm quyền, tuân thủ quy trình, nguyên tắc, thảo luận tập thể, tôn trọng ý kiến khác và kiểm soát hoạt động của đoàn kiểm tra là những bảo đảm về tổ chức. Trong môi trường ấy, từng cán bộ phải biết tự soi xét động cơ, căn cứ và cách sử dụng quyền hạn của mình.

Quy định số 131-QĐ/TW, ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị đã xác lập cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong chính lĩnh vực kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật. Đây là một bước phát triển rất quan trọng: tổ chức và người thực hiện chức năng kiểm tra quyền lực không đứng ngoài sự kiểm soát quyền lực.

Quy định số 207-QĐ/TW, ngày 26/7/2026 về những điều đảng viên không được làm tiếp tục đặt ra những giới hạn rõ về chủ nghĩa cá nhân, vụ lợi, lợi ích nhóm, độc đoán, chuyên quyền, lạm quyền, không trung thực, né tránh trách nhiệm; đồng thời nghiêm cấm việc can thiệp, tác động, áp đặt vào hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm làm sai lệch kết quả hoặc giảm trách nhiệm, mức xử lý.

Đối với cán bộ kiểm tra, ranh giới phải rất rõ: không nể nang đến mức mất tính chiến đấu; cũng không nhân danh tính chiến đấu để áp đặt. Không né tránh trách nhiệm; nhưng tuyệt đối không được vượt quá thẩm quyền.

Trước một vụ việc phức tạp, người cán bộ kiểm tra phải đủ tỉnh táo để tự hỏi: nhận định này dựa trên chứng cứ hay cảm giác; đã nghe đủ các phía chưa; có tài liệu nào trái với giả thuyết ban đầu mà chưa được xem xét thỏa đáng; quan hệ, dư luận hay sức ép nào đang tác động đến đánh giá của mình; nếu chứng cứ mới cho thấy nhận định trước chưa đúng, mình có đủ bản lĩnh để sửa hay không?

Bồi đắp văn hóa kiểm tra trong giai đoạn phát triển mới

Văn hóa kiểm tra là tài sản chung được tạo nên bởi truyền thống, thể chế, phương pháp làm việc và môi trường của cả Ngành. Nó hiện diện trong cách cấp trên hướng dẫn cấp dưới, cách các đơn vị phối hợp và tranh luận trên căn cứ, cách tập thể bảo vệ người nói thật, sửa sai và truyền nghề cho lớp sau. Bồi đắp văn hóa ấy vì thế là trách nhiệm của tổ chức, người đứng đầu và mỗi cán bộ; thước đo cuối cùng là chất lượng kiểm tra, giám sát và niềm tin mà công việc tạo ra.

Bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV, công tác kiểm tra, giám sát đứng trước những thay đổi lớn về tư duy và phương thức thực hiện.

Cùng với đó là quá trình chuyển đổi số và từng bước thực hiện “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”. Công nghệ và dữ liệu mở ra khả năng phát hiện sớm những bất thường, lựa chọn đúng trọng tâm và nâng cao hiệu quả giám sát.

Dữ liệu phải được khai thác đúng thẩm quyền, đúng mục đích, bảo đảm chính xác, bảo mật và có khả năng kiểm chứng. Một chỉ báo bất thường có thể gợi ra vấn đề cần xem xét, nhưng không tự nó trở thành chứng cứ kết luận vi phạm. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tìm kiếm, tổng hợp, phân tích; trách nhiệm cuối cùng đối với nhận định, báo cáo và kết luận vẫn thuộc về tổ chức, cán bộ có thẩm quyền.

Giai đoạn mới cũng đặt ra bài toán khó hơn: giữ nghiêm kỷ luật nhưng phải bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời nhận diện đúng những trường hợp lợi dụng chủ trương khuyến khích đổi mới để che giấu động cơ vụ lợi hoặc vi phạm. Quan điểm này vừa được thể hiện trong các định hướng đổi mới công tác kiểm tra, vừa có sự gặp gỡ sâu sắc với lời nhắc của đồng chí Trần Kiên từ nhiều năm trước: đấu tranh chống tiêu cực phải gắn với bảo vệ người tích cực.

Công tác kiểm tra trong giai đoạn mới còn được đặt trong yêu cầu thúc đẩy phát triển. Kiểm tra phải giữ nghiêm kỷ cương, đồng thời qua kiểm tra phải nhận diện được sơ hở, bất cập của cơ chế, chính sách và phương thức lãnh đạo, quản lý; đề xuất cách khắc phục có tính khả thi, không tạo thêm rào cản không cần thiết.

Hệ thống thể chế phải tiếp tục được rà soát, bổ sung, bảo đảm đồng bộ với mô hình tổ chức mới và phương thức kiểm tra, giám sát trên dữ liệu. Quy trình phải đủ chặt chẽ để kiểm soát quyền lực nhưng không hành chính hóa hoạt động kiểm tra. Môi trường cơ quan phải nuôi dưỡng tính trung thực, liêm chính, tinh thần tranh luận nghề nghiệp và trách nhiệm cá nhân. Công tác đào tạo phải hình thành được những cán bộ vừa có bản lĩnh chính trị, vừa tinh thông nghiệp vụ, có kiến thức chuyên ngành, kỹ năng số, khả năng lập luận và viết kết luận.

Nhìn lại 78 năm xây dựng, trưởng thành và hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống, uy tín của Ngành được gây dựng từ kết quả công tác và cách các thế hệ sử dụng quyền hạn mà Đảng giao.

Công cụ hôm nay khác trước. Hồ sơ đang dần chuyển từ giấy sang dữ liệu số. Phương thức kiểm tra, giám sát ngày càng chủ động, hiện đại hơn. Nhưng có những giá trị không thể thay đổi: trung thực trước sự thật, liêm khiết trước lợi ích, thận trọng trước chứng cứ và trách nhiệm trước danh dự của Đảng, của tổ chức và đồng chí mình.

Giữ khách quan và trách nhiệm đến cùng trong quá trình tìm sự thật là thử thách thường trực của người cán bộ kiểm tra.

Người trong nghề hiểu rằng phía sau một kết luận có khi là nhiều tháng đọc hồ sơ, đi cơ sở, thẩm tra, xác minh và cân nhắc từng câu chữ. Phía sau một quyết định là kỷ luật của Đảng, nhưng cũng có thể là danh dự, cuộc đời công tác và sinh mệnh chính trị của một đồng chí. Vì thế, người cán bộ kiểm tra phải biết cảnh giác với sự chủ quan, biết giữ mình trước thẩm quyền, biết dừng lại khi chứng cứ chưa đủ và biết sửa nhận định khi sự thật đòi hỏi.

Truyền thống “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, trung thực, liêm khiết, kỷ cương và tận tụy” không chỉ nhắc nhớ một chặng đường vẻ vang, mà còn là chuẩn mực để mỗi thế hệ cán bộ kiểm tra tự soi mình trong công việc hằng ngày. Gìn giữ những giá trị ấy bằng chất lượng của từng cuộc kiểm tra, từng kết luận và bằng chính phẩm chất của người cán bộ là cách thiết thực để tiếp tục bồi đắp bản lĩnh, uy tín của Ngành Kiểm tra Đảng trên chặng đường hướng tới 80 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển./.

TS. Nguyễn Thị Minh Phương

Vụ Nghiên cứu, Đào tạo nghiệp vụ

Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương

 

Tài liệu tham khảo và nguồn trích dẫn chính

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 70 năm truyền thống Ngành Kiểm tra Đảng (1948–2018), Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2018; tài liệu ghi lại Quyết nghị số 29-QN/TW ngày 16/10/1948, quá trình xây dựng, phát triển của Ngành và những tấm gương cán bộ kiểm tra qua các thời kỳ.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về những điều đảng viên không được làm.

3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam; Kết luận số 43-KL/TW ngày 04/6/2026 về tiếp tục thực hiện Kết luận số 34-KL/TW về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030; Quy định số 212-QĐ/TW ngày 17/8/2026 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

4. Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chuyên đề số 03: Văn hóa kiểm tra trong hoạt động kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, thuộc Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ban hành kèm theo Quyết định số 2007-QĐ/UBKTTW năm 2025; trong đó dẫn Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 và tập 11.

5. Báo Nhân Dân, “Ngành Kiểm tra Đảng tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang 75 năm xây dựng và trưởng thành”, tháng 10/2023; “Đồng chí Nguyễn Lương Bằng – Người cộng sản kiên trung, mẫu mực, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam”, ngày 28/3/2024.

6. Trang Thông tin điện tử Ủy ban Kiểm tra Trung ương: các bài viết về đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng, Trần Kiên; tin Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2025 và nhiệm kỳ Đại hội XIII; Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026; Đại hội thi đua yêu nước Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương lần thứ V; bài về chuyển đổi số Ngành Kiểm tra Đảng và Kế hoạch số 04 ngày 23/3/2026. Báo Nhân Dân: tin kiểm tra, giám sát Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương năm 2026.


Tin mới

Hoạt động của UBKT trung ương

Tài liệu - Tư liệu