A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường giám sát trong Đảng – Một số vấn đề đặt ra đối với cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp

Ngày 07/4/2026, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Nghị quyết xác định công tác kiểm tra, giám sát là một trong những phương thức, chức năng lãnh đạo quan trọng nhất của Đảng, là “cơ chế để Đảng tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền” đồng thời là “công cụ để kiểm soát quyền lực”. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu phải coi công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ thường xuyên, gương mẫu, quyết liệt trong tổ chức thực hiện; mỗi đảng viên phải coi tự kiểm tra, giám sát là trách nhiệm chính trị trước Đảng. Đây là bước phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy lãnh đạo, chỉ đạo, kế thừa, nâng tầm Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 30/7/2007 của Hội nghị Trung ương 5 khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Công tác giám sát của Đảng là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống giám sát và kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị nước ta. Tăng cường giám sát trong Đảng vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là phương thức quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Từ Đại hội X đến nay, hệ thống quy định về giám sát của Đảng được hoàn thiện cơ bản đồng bộ về chủ thể, đối tượng, nội dung; hoạt động giám sát được mở rộng bằng các hình thức giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề với các phương pháp trực tiếp và gián tiếp, nhiều vi phạm được phát hiện, chấn chỉnh từ sớm, khi mới manh nha, đã góp phần quan trọng vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tuy nhiên, Nghị quyết số 05-NQ/TW cũng thẳng thắn chỉ ra: giám sát thường xuyên còn là khâu yếu; ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu; có nơi còn nể nang, ngại va chạm nhất là đối với những đồng chí cấp ủy viên cùng cấp; các phương pháp giám sát truyền thống đôi khi không kịp thời phát hiện các vi phạm mới và tiềm ẩn, việc tích hợp và ứng dụng các công nghệ hiện đại như công nghệ thông tin và dữ liệu lớn trong giám sát nội bộ đảng vẫn đang hoàn thiện; việc theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận giám sát thiếu quyết liệt. Thực tế vẫn còn tình trạng cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ về công tác giám sát, khoán trắng cho ủy ban kiểm tra cùng cấp hoặc để những lĩnh vực nhạy cảm dễ phát sinh tiêu cực không được giám sát; giám sát chưa đến nơi đến chốn, hiệu quả phòng ngừa chưa cao để đến khi tổ chức, cá nhân vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng mới phát hiện.

Đảng ta là đảng cầm quyền, và các cán bộ lãnh đạo nắm giữ các mức độ quyền lực khác nhau, đối mặt với đủ loại cám dỗ và thường trở thành mục tiêu của tham nhũng. Quyền lực mà không có sự giám sát chắc chắn sẽ dẫn đến độc đoán, chuyên quyền, lạm quyền, quan liêu và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gắn với tham nhũng, tiêu cực, vì thế không thể có vùng cấm hay ngoại lệ nào trong công tác giám sát nội bộ đảng. Trong bối cảnh tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, cùng với sự xuất hiện của những dạng vi phạm mới tinh vi, khó lường gắn với kinh tế thị trường, địa phương được giao những cơ chế đặc thù. Nếu không tăng cường giám sát, các vấn đề có thể dễ dàng phát sinh; lòng tin không thể thay thế giám sát; điều quan trọng nhất là dựa vào các hệ thống giám sát để kiềm chế quyền lực trong khuôn khổ các quy định. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục tăng cường giám sát trong Đảng, hướng dẫn tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên sử dụng đúng đắn quyền lực được Đảng và Nhân dân giao, bảo đảm tất cả tổ chức đảng và đảng viên đều bị tổ chức giám sát, do đó các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cần tiếp tục thực thi nghiêm túc một số giải pháp sau:

1. Hoàn thiện hệ thống chủ thể giám sát, bảo đảm giám sát toàn diện, không để “vùng trống” nhất là trong lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực và khiếu kiện

Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng đã xác lập một hệ thống chủ thể giám sát tương đối đầy đủ, gồm: sự lãnh đạo thống nhất của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; giám sát toàn diện của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp trong phạm vi lãnh đạo, quản lý; giám sát chuyên trách, chuyên sâu của ủy ban kiểm tra các cấp; giám sát theo lĩnh vực của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy; giám sát thường xuyên, hằng ngày của đảng ủy trực thuộc cơ sở, chi bộ đối với đảng viên; và sự tham gia giám sát của cán bộ, đảng viên theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền. Bên cạnh đó còn có giám sát của các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, giám sát của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, giám sát của các cơ quan báo chí và Nhân dân... Vấn đề đặt ra hiện nay không phải là thiếu chủ thể giám sát, mà là làm cho từng chủ thể vận hành thực chất, đúng vai, đúng việc, đúng trách nhiệm và liên kết chặt chẽ với nhau, đó là:

- Tăng cường giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới, kênh giám sát “từ trên xuống” mang tính quyết định; đồng thời mở rộng dân chủ trong Đảng để phát huy giám sát “từ dưới lên” thông qua quyền phê bình, chất vấn, góp ý của đảng viên và Nhân dân; phát huy giám sát lẫn nhau trong tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy. Ba chiều giám sát đó đan xen, bổ trợ, tạo thành mạng lưới giám sát chặt chẽ, bảo đảm mọi tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ nắm giữ quyền lực, đều đặt dưới sự giám sát của tổ chức đảng và Nhân dân. Lấy giám sát trong Đảng làm nòng cốt, gắn kết hữu cơ với các loại hình giám sát khác để tạo sức mạnh tổng hợp. Cấp ủy các cấp phát huy vai trò lãnh đạo, tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan tư pháp thực hiện giám sát theo quy định của pháp luật; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện giám sát, phản biện xã hội theo điều lệ và quy định của Đảng; phát huy vai trò giám sát của Nhân dân và báo chí.

- Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, đảng bộ xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh, phạm vi lãnh đạo, quản lý và thẩm quyền của cấp cơ sở được mở rộng rất nhiều, trong khi lực lượng làm công tác kiểm tra, giám sát còn mỏng. Phân cấp, phân quyền đến đâu thì giám sát, kiểm soát quyền lực phải theo kịp đến đó. Cấp ủy cấp tỉnh cần chỉ đạo kiện toàn ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra cấp xã đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng; phân công cụ thể cán bộ theo dõi địa bàn, lĩnh vực; ủy ban kiểm tra cấp tỉnh tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp dưới. Thực hiện nghiêm các quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; bảo đảm thông tin về vi phạm của cán bộ, đảng viên được chuyển kịp thời đến ủy ban kiểm tra cùng cấp. Đặc biệt chú trọng phối hợp giám sát ở các lĩnh vực trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực như: công tác cán bộ, đất đai, tài nguyên, tài chính, ngân hàng, đầu tư công, mua sắm tài sản công,...

2. Hoàn thiện các quy định và cơ chế giám sát trong Đảng

Đảng ta luôn coi trọng xây dựng thể chế về giám sát. Từ Đại hội X, giám sát được bổ sung vào Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng thành một nhiệm vụ của tổ chức đảng các cấp; từ đó đến nay, hệ thống quy định về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, về trách nhiệm nêu gương, về những điều đảng viên không được làm, về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và trong các lĩnh vực trọng yếu... đã xác định tương đối rõ chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức và cơ chế giám sát.

Vấn đề quyết định hiện nay là đưa quy định thực thi tốt trong cuộc sống. Muốn vậy, trước hết, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp phải cụ thể hóa thành quy chế, quy trình, hướng dẫn sát với đặc điểm của địa phương, cơ quan, đơn vị. Do điều kiện của từng địa bàn, lĩnh vực khác nhau, cần phân loại rõ đối tượng giám sát (tổ chức đảng, cấp ủy viên, người đứng đầu, cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý), xác định trúng vấn đề trọng tâm, trọng điểm để nội dung giám sát cụ thể, có địa chỉ, tránh dàn trải, hình thức. Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm của cấp ủy, ủy ban kiểm tra phải được xây dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình, gắn với nhiệm vụ chính trị và những vấn đề dư luận quan tâm.

Tiếp theo, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, thể chế. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để hoàn thiện quy định về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng bảo đảm đồng bộ, liên thông với pháp luật của Nhà nước, khắc phục “chồng chéo, khoảng trống, bất cập giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”. Trọng tâm là xây dựng cơ chế  phối hợp kiểm tra, giám sát trên dữ liệu; tập trung giám sát thường xuyên (khâu đột phá theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW), bảo đảm ủy ban kiểm tra các cấp tiếp cận đầy đủ, kịp thời thông tin về hoạt động hằng ngày của đối tượng giám sát; hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận kiểm tra, giám sát; chú trọng giải quyết những điểm nghẽn trong công tác giám sát bằng đổi mới thể chế gắn với ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, từng bước hình thành cơ chế lâu dài để Đảng “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”, quản lý quyền lực, quản lý công việc, quản lý con người bằng quy định của Đảng và pháp luật.

3. Tập trung giám sát người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và thực hiện nghiêm trách nhiệm giám sát

Thực tiễn công tác xây dựng Đảng những năm qua cho thấy, nhiều vi phạm nghiêm trọng, kéo dài đều có nguyên nhân sâu xa từ việc người đứng đầu, cán bộ chủ chốt buông lỏng lãnh đạo, quản lý, thậm chí lạm quyền, lộng quyền, trong khi cơ chế giám sát đối với họ chưa đủ mạnh. Vì vậy, tăng cường giám sát trong Đảng phải nắm chắc mâu thuẫn chủ yếu, tập trung vào đối tượng trọng tâm là người đứng đầu, cấp ủy viên, cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý, nhất là những người nắm giữ quyền lực về công tác cán bộ, phân bổ nguồn lực, triển khai các dự án đầu tư lớn. lĩnh vực trọng điểm dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Giám sát tốt “người cầm lái” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy cả hệ thống vận hành nghiêm minh. Muốn vậy, phải thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo các cấp phải tự giác chấp nhận sự giám sát, đề nghị tổ chức đảng cấp trên được giám sát. Không có ai đứng ngoài, đứng trên sự giám sát của tổ chức đảng; mọi quyền lực do Đảng và Nhân dân giao đều phải được kiểm soát; chức vụ càng cao, trách nhiệm nêu gương càng lớn, theo tinh thần “trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau”, cấp trên gương mẫu cho cấp dưới noi theo. Người đứng đầu phải tự giác báo cáo, giải trình với tổ chức đảng; thực hiện nghiêm việc kê khai, công khai tài sản, thu nhập; chủ động tạo điều kiện cho chủ thể giám sát thực hiện nhiệm vụ.

Thứ hai, tăng cường giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên đối với người đứng đầu cấp dưới, kịp thời có giải pháp đồng bộ tháo gỡ những khó khăn trong giám sát người đứng đầu và giám sát trong nội bộ tập thể lãnh đạo thường trực, ban thường vụ; phát huy vai trò của ủy ban kiểm tra trong giám sát cấp ủy viên cùng cấp, kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ; xác định rõ phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, với các tiêu chí rõ thẩm quyền, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm; ngăn ngừa tình trạng độc đoán, chuyên quyền. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, sử dụng thường xuyên vũ khí tự phê bình và phê bình, kiểm điểm định kỳ, lấy phiếu tín nhiệm; thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo giữa các kỳ họp.

Thứ ba, thực hiện nghiêm hệ thống trách nhiệm về giám sát. Phải xác định rõ giám sát là nhiệm vụ của toàn Đảng, “toàn Đảng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát”, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy. Cấp ủy, ban thường vụ chịu trách nhiệm toàn diện về công tác giám sát trong đảng bộ; người đứng đầu cấp ủy chịu trách nhiệm liên đới, cấp ủy viên, thành viên ủy ban, cán bộ theo dõi địa bàn thực hiện giám sát theo lĩnh vực, địa bàn được phân công chịu trách nhiệm trực tiếp; ủy ban kiểm tra tham mưu, giúp cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ giám sát theo Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Đảng. Gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ giám sát với đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên; xem xét trách nhiệm của tổ chức, cá nhân buông lỏng giám sát để xảy ra vi phạm nghiêm trọng, kéo dài.

4. Phân định và kiểm soát chặt chẽ quyền lực, thúc đẩy các hoạt động công khai, minh bạch trong thực thi công vụ của các tổ chức, cá nhân

Phân định quyền lực một cách khoa học và kiểm soát hiệu quả việc thực thi quyền lực là “lá chắn” bảo vệ quan trọng cho công tác giám sát. Cần tuân thủ nguyên tắc quyền hạn gắn với trách nhiệm theo quy định; xác định rõ thẩm quyền của tập thể và cá nhân, ranh giới quyền lực giữa các chủ thể; cải cách hành chính gắn với chuẩn hóa quy trình, thủ tục giải quyết công việc trên môi trường số, hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp của người dân với cán bộ, đảng viên giải quyết các thủ tục hành chính; phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; thực hiện nghiêm việc luân chuyển cán bộ, chuyển đổi vị trí công tác định kỳ đối với những vị trí dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực.

Giám sát trong Đảng đòi hỏi phải tăng cường công khai, minh bạch. Thực hiện nghiêm quy chế dân chủ trong Đảng và trong hệ thống chính trị; công khai quy định, quy trình, thủ tục và kết quả giải quyết công việc theo quy định; công khai kết quả kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng; lấy công khai để thúc đẩy công bằng, lấy minh bạch để giữ gìn liêm chính. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cấp ủy và các cơ quan nhà nước, thực hiện “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu”, liên thông dữ liệu giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan liên quan; kiểm soát đúng, đủ tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý và các cán bộ, đảng viên khác theo quy định.

Đối với việc quyết định những vấn đề quan trọng, phải bảo đảm khoa học, dân chủ, đúng pháp luật; thực hiện việc lấy ý kiến Nhân dân, tham vấn chuyên gia, phát huy phản biện xã hội để tăng tính minh bạch và sự tham gia của xã hội. Thực hiện nghiêm cơ chế ghi chép, theo dõi, phát hiện và xử lý hành vi can thiệp, tác động trái quy định của cán bộ lãnh đạo vào công tác cán bộ và hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; đặt toàn bộ quá trình vận hành quyền lực dưới sự giám sát của tổ chức đảng và Nhân dân.

5. Đổi mới phương thức giám sát trong Đảng

Về bản lĩnh, các chủ thể giám sát phải nâng cao ý thức trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân; kiên quyết khắc phục tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”. Đội ngũ cán bộ kiểm tra phải thực sự “bản lĩnh, liêm chính và chuyên nghiệp”, chí công vô tư, khách quan, công tâm. Cùng với việc giám sát người khác, mỗi chủ thể giám sát phải tự giác chịu sự giám sát, làm tròn trách nhiệm của mình; Ngành Kiểm tra phải đi đầu trong kiểm soát quyền lực ngay trong nội bộ, xử lý nghiêm cán bộ kiểm tra vi phạm.

Về năng lực và phương pháp, các chủ thể giám sát phải giỏi giám sát, nắm vững chủ trương, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chú trọng phương pháp, cách làm. Giám sát phải đi vào thường xuyên, hằng ngày, đi vào chi tiết, “giám sát ngay từ đầu”; quán triệt phương châm “phòng ngừa chặt chẽ, phát hiện từ sớm, ngăn chặn từ gốc, xử lý từ đầu”; sử dụng linh hoạt các biện pháp nhắc nhở, cảnh báo, kiến nghị để chấn chỉnh từ khi khuyết điểm mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; khi phát hiện dấu hiệu vi phạm thì kịp thời chuyển sang kiểm tra theo đúng thẩm quyền. Kết hợp chặt chẽ giám sát với kiểm tra theo phương châm “giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”.

Về đổi mới phương thức, kết hợp linh hoạt phương pháp giám sát trực tiếp và gián tiếp: dự họp, nghe báo cáo, đối thoại, chất vấn, khảo sát thực tế; nắm tình hình qua báo cáo, văn bản của đối tượng giám sát, qua phản ánh của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, báo chí và đơn thư, mạng xã hội... Phát huy vai trò cán bộ theo dõi địa bàn, lĩnh vực, tập trung vào nơi có nhiều đơn thư, dư luận phản ánh, địa bàn phức tạp, nhạy cảm. Chuyển mạnh trọng tâm sang phòng ngừa, cảnh báo vi phạm; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện Ngành Kiểm tra, ứng dụng dữ liệu lớn trong nhận diện nguy cơ, phát hiện dấu hiệu vi phạm. Xây dựng khung năng lực, nâng cao “năng lực số” và trình độ chuyên sâu của cán bộ kiểm tra ở các lĩnh vực trọng yếu như công tác cán bộ, đất đai, tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản, mua sắm công.

Về mục tiêu, giám sát không chỉ để phát hiện, ngăn chặn vi phạm mà còn phải “kiến tạo, thúc đẩy phát triển”. Qua giám sát, kịp thời phát hiện nhân tố mới, mô hình hay; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; phân biệt rõ sai sót trong đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung với hành vi vi phạm vì động cơ vụ lợi; đồng thời kiên quyết xử lý những trường hợp trì trệ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai không dám làm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát”. Lời dạy đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tăng cường giám sát trong Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên. Chỉ khi các chủ thể giám sát thực hiện nhiệm vụ với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, dám tự phê bình và phê bình, đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên hết, giám sát thường xuyên mới thực sự trở thành khâu đột phá, góp phần kiểm soát chặt chẽ quyền lực, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Bùi Chí Trung - Mai Trọng Tâm

Vụ Nghiên cứu, Đào tạo nghiệp vụ,

Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương


Tin mới

Hoạt động của UBKT trung ương

Tài liệu - Tư liệu