A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII và dấu ấn công tác kiểm tra trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức, chủ trương và phương thức lãnh đạo của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ đổi mới. Quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết cho thấy công tác kiểm tra không chỉ góp phần phát hiện và xử lý vi phạm, mà còn trực tiếp phục vụ tự phê bình và phê bình, kiểm tra cán bộ và công tác cán bộ, xác định trách nhiệm của tổ chức đảng và người đứng đầu, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Một dấu mốc quan trọng trong tiến trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, căn cứ yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và thực trạng công tác xây dựng Đảng, Đảng ta đều chủ động nhận diện những vấn đề mới, đề ra chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp phù hợp để tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Tuy nhiên, sự vận động của cơ chế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập, những bất cập trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội và sự chưa đồng bộ của hệ thống cơ chế, chính sách cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. 

Thực tiễn công tác kiểm tra trong các nhiệm kỳ khóa VI, khóa VII và những năm đầu khóa VIII cũng cho thấy các vi phạm trong quản lý kinh tế, đất đai, tài chính, tài sản công, doanh nghiệp nhà nước và công tác cán bộ diễn biến phức tạp. Qua kiểm tra, giải quyết tố cáo, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra đã phát hiện những biểu hiện lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng sơ hở của cơ chế, chính sách để cố ý làm trái, tham ô, hối lộ, móc ngoặc, làm giàu bất chính; đồng thời phát hiện tình trạng buông lỏng lãnh đạo, quản lý, bao che hoặc xử lý không nghiêm đối với cán bộ, đảng viên vi phạm.

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII  họp từ ngày 25/1 đến ngày 2/2/1999. Trên cơ sở Nghị quyết số 09-NQ/TW của Hội nghị, ngày 2/2/1999, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, thường được gọi là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII.

Nghị quyết xác định 10 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, bao quát những vấn đề lớn về chính trị, tư tưởng, lý luận, đạo đức, lối sống, tổ chức, cán bộ, nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ chức cơ sở đảng, sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và đổi mới việc ban hành, tổ chức thực hiện nghị quyết. Đây không phải là những nhiệm vụ rời rạc, mà hợp thành một chỉnh thể nhằm tăng cường sự thống nhất trong Đảng, củng cố nền tảng tư tưởng, giữ gìn phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Một điểm nổi bật là Trung ương quyết định tiến hành Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình từ ngày 19/5/1999 đến ngày 19/5/2001; sau đó đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành nền nếp thường xuyên. Mục tiêu của Cuộc vận động là nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng.

Với nội dung và cách thức tổ chức thực hiện như vậy, Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đánh dấu bước phát triển quan trọng: xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ được đặt ra như yêu cầu chung của công tác xây dựng Đảng, mà được tổ chức thành một cuộc vận động chính trị sâu rộng, gắn tự phê bình và phê bình với kiểm tra, xem xét trách nhiệm, chấn chỉnh tổ chức, xử lý vi phạm và hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện.

Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2), Bộ phận Thường trực và sự tham gia của cán bộ Ngành Kiểm tra

Để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết và Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2) và Bộ phận Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo. Cơ chế này góp phần hình thành đầu mối tham mưu, theo dõi, tổng hợp, kiểm tra, đôn đốc và phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Trong nhiệm kỳ khóa IX, đồng chí Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2). Đồng chí Vũ Quốc Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, đồng thời là Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo, Trưởng Bộ phận Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2).

Bộ phận Thường trực làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, trưng tập cán bộ từ Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan, ban đảng Trung ương có liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao. Bộ phận Thường trực không chỉ thực hiện công tác hành chính, tổng hợp, mà tham gia tham mưu nội dung, theo dõi tình hình, chuẩn bị báo cáo, tổ chức giao ban, đôn đốc và kết nối hoạt động của các cơ quan, địa phương, đơn vị. Đồng chí Vũ Quốc Hùng, với cương vị Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo, Trưởng Bộ phận Thường trực, đã trực tiếp tham gia quá trình này.

Hoạt động của Bộ phận Thường trực là một bước phát triển đáng chú ý về cơ chế tham mưu, phối hợp, theo dõi và đôn đốc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Từ thực tiễn đó, kinh nghiệm về tổ chức một đầu mối giúp việc liên ngành, tập hợp cán bộ từ nhiều cơ quan, gắn công tác kiểm tra với nội chính, tổ chức, văn phòng và các lĩnh vực liên quan đã góp phần đặt những tiền đề thực tiễn cho quá trình tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức chuyên trách về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong những giai đoạn sau.

Những nội dung gắn trực tiếp với công tác kiểm tra của Đảng

Mặc dù Nghị quyết đề cập toàn diện nhiều lĩnh vực của công tác xây dựng Đảng, song có thể nhận thấy công tác kiểm tra hiện diện trực tiếp hoặc gián tiếp trong hầu hết các nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Trước hết, Nghị quyết yêu cầu các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống; thực hiện các quy định về công khai tài chính, kê khai tài sản, chế độ, chính sách của cán bộ và những điều đảng viên không được làm. Điều đó thể hiện rõ nhận thức: giáo dục, rèn luyện phải đi đôi với quản lý, kiểm tra; phát huy tính tự giác phải gắn với cơ chế xem xét, đánh giá và xử lý trách nhiệm.

Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; yêu cầu cấp ủy và người đứng đầu các cấp, các ngành phải chịu trách nhiệm về công tác phòng, chống tham nhũng ở nơi mình phụ trách. Khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tùy tính chất, mức độ phải xem xét trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu. Nghị quyết đồng thời yêu cầu cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp phối hợp với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm sát, tòa án nắm chắc tình hình, khẩn trương kiểm tra, kết luận, xử lý kịp thời các tố cáo về đạo đức, lối sống, tiêu cực đối với cấp ủy viên và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị.

Đây là một bước phát triển quan trọng về tư duy trách nhiệm. Vi phạm không chỉ được xem xét ở người trực tiếp thực hiện hành vi, mà còn phải làm rõ trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, trách nhiệm kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời, chống tham nhũng được đặt trong tổng thể xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không chỉ như hoạt động xử lý hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế.

Nghị quyết cũng đề cao sự giám sát của tổ chức đảng, của Nhân dân, cơ quan dân cử và công luận; yêu cầu xây dựng các cơ quan kiểm tra, thanh tra, bảo vệ pháp luật trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt trong đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu. Quan điểm này đã đặt nền móng cho việc phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và Nhân dân trong phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm.

Đối với tự phê bình và phê bình, Nghị quyết yêu cầu nơi có biểu hiện mất đoàn kết phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ đạo kiểm điểm; làm rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu; trường hợp nghiêm trọng phải thay thế cán bộ chủ chốt và xử lý thích đáng người có liên quan. Như vậy, tự phê bình và phê bình không được dừng lại ở sự tự giác nhận khuyết điểm, mà phải dựa trên thông tin khách quan, làm rõ bản chất, nguyên nhân và trách nhiệm, gắn với biện pháp tổ chức và xử lý cần thiết.

Đặc biệt, tại nhiệm vụ thứ mười về cải tiến việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết, Trung ương yêu cầu các cấp ủy phải tập trung chỉ đạo thực hiện, sơ kết, rút kinh nghiệm, bổ khuyết kịp thời; tăng cường kiểm tra việc chấp hành nghị quyết; lãnh đạo các cấp phải đi sâu kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình, phát hiện nhân tố mới, uốn nắn lệch lạc và giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh.

Nhìn từ góc độ công tác kiểm tra, đây là một nội dung có ý nghĩa lâu dài. Kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện vi phạm, mà còn là một khâu trong chu trình lãnh đạo: từ ban hành chủ trương, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả đến bổ sung, hoàn thiện chủ trương. Không kiểm tra việc thực hiện thì khó đánh giá nghị quyết đã đi vào cuộc sống đến đâu, hạn chế nằm ở nội dung chủ trương hay ở khâu tổ chức thực hiện, trách nhiệm thuộc về tập thể hay cá nhân nào.

Dấu ấn công tác kiểm tra trong tổ chức thực hiện Nghị quyết

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), công tác kiểm tra được triển khai trên nhiều phương diện, vừa phục vụ cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vừa thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên theo Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao.

Một trong những đóng góp quan trọng của công tác kiểm tra là cung cấp căn cứ khách quan cho quá trình tự phê bình và phê bình. Qua kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo và kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã giúp cấp ủy làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và trách nhiệm của tập thể, cá nhân. Kết quả kiểm tra góp phần khắc phục tình trạng kiểm điểm chung chung, nể nang, né tránh; đồng thời phục vụ việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ và chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp.

Tài liệu lịch sử Ngành Kiểm tra Đảng cho thấy qua giải quyết tố cáo kết hợp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, ủy ban kiểm tra các cấp đã góp phần giúp cấp ủy chỉ đạo kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết; làm rõ những biểu hiện mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, tranh chức, tranh quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và trách nhiệm của cán bộ chủ chốt.

Công tác kiểm tra cán bộ và công tác cán bộ cũng được cụ thể hóa. Trong năm 1999, Ủy ban Kiểm tra Trung ương tham mưu Bộ Chính trị ban hành Quy chế số 53-QĐ/TW về chế độ kiểm tra cán bộ và công tác cán bộ; Quy định số 55-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Các văn bản này tạo thêm cơ sở để giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng; phòng ngừa và xử lý các biểu hiện suy thoái, quan liêu, tham nhũng và tiêu cực. Ủy ban Kiểm tra Trung ương còn tham gia xây dựng báo cáo về thực trạng quan liêu, tham nhũng và cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng trong Đảng giai đoạn 1996-2000, phục vụ Đại hội IX của Đảng.

Sang nhiệm kỳ Đại hội IX, việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm phục vụ cấp ủy về xây dựng Đảng. Công tác kiểm tra được tiến hành đồng bộ, tập trung vào kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm. Trong nhiệm kỳ, ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra gần 97 nghìn đảng viên và gần 15 nghìn tổ chức đảng; riêng Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra 56 đảng viên và 18 tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm, tăng gần hai lần so với nhiệm kỳ trước.

Các số liệu trên phản ánh quy mô hoạt động chung của ủy ban kiểm tra các cấp trong nhiệm kỳ, không hoàn toàn là kết quả trực tiếp của Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Tuy nhiên, việc tập trung kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo, xem xét kỷ luật và xử lý các vụ việc nghiêm trọng đã trực tiếp phục vụ yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng và tiêu cực mà Nghị quyết đặt ra.

Qua kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, xử lý vi phạm của cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; phối hợp và chuyển cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo pháp luật đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Một số vụ việc nghiêm trọng như vụ Trương Văn Cam và đồng bọn, vụ Lã Thị Kim Oanh, các vụ việc tại một số tổng công ty nhà nước và một số địa phương.

Điều cần nhấn mạnh là cơ quan kiểm tra của Đảng không thay thế hoạt động thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử. Vai trò của công tác kiểm tra là xem xét việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; làm rõ trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên; xử lý hoặc đề nghị xử lý kỷ luật đảng; đồng thời chuyển thông tin, hồ sơ cho cơ quan chức năng khi có căn cứ. Sự phối hợp đó góp phần bảo đảm xử lý đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc hình sự theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh phát hiện và xử lý vi phạm, kết quả kiểm tra còn góp phần nhận diện sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, quy chế quản lý; kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm phòng ngừa tái diễn. Đây là một giá trị quan trọng của công tác kiểm tra: từ xử lý một tổ chức hoặc cá nhân cụ thể, đi đến xem xét trách nhiệm của cả hệ thống lãnh đạo, quản lý và hoàn thiện thể chế.

Kết quả và những bài học còn nguyên giá trị

Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần tạo chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên; thúc đẩy việc xây dựng, bổ sung cơ chế, chính sách; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra; nâng cao hơn tính nghiêm minh trong thi hành kỷ luật của Đảng và xử lý một số vụ án, vụ việc lớn.

Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc kiểm điểm công tác năm 2005 và năm năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) trên lĩnh vực đấu tranh phòng, chống quan liêu, lãng phí, tiêu cực, đồng thời triển khai nhiệm vụ năm 2006 (tháng 2/2006) đánh giá: Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được tăng cường đáng kể và tạo ra một số chuyển biến tích cực. Nổi bật là việc xây dựng thể chế kinh tế, chính trị theo hướng dân chủ, công khai tiếp tục được đẩy mạnh; công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra được tăng cường; việc xét xử các vụ án và chấp hành kỷ luật trong Đảng nghiêm minh hơn, trong đó một số vụ án lớn đã được truy tố, xét xử đúng người, đúng tội. Công tác cán bộ có đổi mới cả về nội dung và cách làm; việc luân chuyển cán bộ bước đầu phát huy tác dụng tích cực. Các cấp ủy quan tâm hơn đến việc chỉ đạo xử lý những vụ việc nổi cộm, đơn thư khiếu nại, tố cáo và đã đạt được những kết quả bước đầu.

Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn chưa tương xứng yêu cầu và đặt ra một số bài học còn nguyên giá trị đến hôm nay.

Một là, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị; không thể chỉ dừng ở một cuộc vận động hoặc đợt sinh hoạt chính trị. Nghị quyết đã xác định sau thời gian tập trung phải đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành nền nếp thường xuyên; đây là tư tưởng có giá trị lâu dài.

Hai là, tự phê bình và phê bình phải gắn với kiểm tra, giám sát và căn cứ khách quan. Kiểm điểm chỉ thực chất khi làm rõ đúng sự thật, đúng trách nhiệm, không né tránh, không áp đặt; đồng thời có biện pháp sửa chữa, xử lý và theo dõi việc khắc phục. Không thể lấy kiểm điểm nội bộ thay thế cho kiểm tra, thẩm tra, xác minh khi đã có dấu hiệu vi phạm.

Ba là, phải xác định rõ và xử lý đúng trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu. Khi để xảy ra vi phạm kéo dài, nghiêm trọng mà không phát hiện, không ngăn chặn hoặc xử lý không kịp thời, cần xem xét cả trách nhiệm lãnh đạo, quản lý và kiểm tra, giám sát, không chỉ xử lý người trực tiếp vi phạm.

Bốn là, công tác kiểm tra phải chủ động, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cán bộ có chức vụ, quyền hạn; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa xử lý vi phạm với phòng ngừa, giáo dục, quản lý cán bộ, hoàn thiện thể chế và công khai, minh bạch.

Năm là, tổ chức thực hiện nghị quyết phải có cơ chế phân công, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và đánh giá kết quả rõ ràng. Nghị quyết đúng nhưng tổ chức thực hiện không nghiêm, không được kiểm tra thường xuyên, không xác định rõ trách nhiệm thì khó tạo chuyển biến thực chất.

Giá trị kế thừa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII là một mắt xích quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời kỳ đổi mới. Những vấn đề được Nghị quyết đặt ra tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; và Kết luận số 21-KL/TW khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Sự phát triển đó thể hiện trên một số phương diện chủ yếu: từ xây dựng, chỉnh đốn Đảng đến xây dựng, chỉnh đốn cả Đảng và hệ thống chính trị; từ nhận diện khuyết điểm, suy thoái đến nhận diện cụ thể các biểu hiện và xử lý nghiêm tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm; từ nhấn mạnh trách nhiệm chung đến tăng cường kiểm soát quyền lực, trách nhiệm nêu gương và trách nhiệm giải trình; từ tập trung xử lý sau vi phạm đến chủ động phòng ngừa, cảnh báo, phát hiện từ sớm, từ xa.

Nhiều giá trị cơ bản của Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) vẫn còn nguyên ý nghĩa: giữ vững nguyên tắc của Đảng; tăng cường giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên; chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí; thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình; đề cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; tăng cường kiểm tra việc tổ chức thực hiện nghị quyết.

Nhìn lại Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII không phải để lặp lại một mô hình tổ chức hoặc phương thức thực hiện của hơn hai thập niên trước, mà để nhận diện rõ hơn quá trình Đảng ta không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn; kế thừa những giá trị đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời khắc phục những hạn chế về tổ chức thực hiện.

Trong quá trình đó, công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng. Kiểm tra giúp Đảng nhận diện đúng thực trạng, bảo vệ nguyên tắc, giữ nghiêm kỷ luật, làm rõ và xử lý trách nhiệm; đồng thời thông qua thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, cơ chế và phương thức lãnh đạo. Dấu ấn của Ngành Kiểm tra trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII vì thế không chỉ nằm ở số lượng tổ chức đảng, đảng viên được kiểm tra hoặc xử lý, mà còn ở đóng góp vào quá trình chuyển hóa yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng thành những hoạt động cụ thể, có căn cứ, có trách nhiệm và có kết quả.

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Ngành Kiểm tra Đảng, việc nghiên cứu, tổng kết những dấu mốc như Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII có ý nghĩa thiết thực trong giáo dục truyền thống, bồi đắp bản lĩnh chính trị và trách nhiệm nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ kiểm tra. Những bài học về trung thành, trung thực, khách quan, thận trọng, kỷ luật, tận tụy; về kiểm tra có trọng tâm, làm rõ trách nhiệm và theo dõi việc khắc phục đến cùng vẫn là những giá trị cần tiếp tục được kế thừa, phát huy, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

TS Nguyễn Thị Minh Phương,

Vụ Nghiên cứu, Đào tạo Nghiệp vụ,

Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 02/02/1999, “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Nguồn: Cổng Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 70 năm truyền thống Ngành Kiểm tra Đảng (1948–2018), Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2018.

3. Nguyễn Thị Minh Phương - Nguyễn Mai Huyền, “Công tác kiểm tra của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”, Tạp chí Kiểm tra, số 10-2023, tr. 57–62.

4. Báo Nhân Dân, “Ban Chỉ đạo TƯ 6 (2) tổ chức hội nghị giao ban cụm phía Bắc”, đăng tháng 6/2004.

5. Báo Nhân Dân, “Kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết TƯ 6 (2)”, đăng tháng 2/2006.

6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, khóa XII, khóa XIII: Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021.

 


Tin mới

Hoạt động của UBKT trung ương

Tài liệu - Tư liệu