A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của Đảng: Từ kiểm soát quyền lực đến phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa

Kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng là phương thức lãnh đạo trọng yếu, là cơ chế tự chỉnh đốn của Đảng cầm quyền và công cụ kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đổi mới không chỉ đặt ra ở bình diện nghiệp vụ, mà còn ở tư duy lãnh đạo, phương pháp tổ chức thực hiện và năng lực kiểm soát quyền lực. Trọng tâm là chuyển từ kiểm tra sau vi phạm sang giám sát thường xuyên, phòng ngừa từ sớm, từ xa; hoàn thiện thể chế, quy định, quy trình; tăng cường phối hợp liên thông; hiện đại hóa trên dữ liệu; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra bản lĩnh, liêm chính, chuyên nghiệp.

Kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo, cơ chế kiểm soát quyền lực, công cụ phòng ngừa và thúc đẩy thực hiện nghị quyết của Đảng

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao vai trò kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, xác định là bộ phận đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng. Đối với một đảng cầm quyền, kiểm tra, giám sát không chỉ là yêu cầu nội bộ về tổ chức, mà còn là điều kiện bảo đảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và tự bảo vệ của Đảng. Không có kiểm tra, giám sát, nghị quyết dễ dừng lại ở văn bản; chủ trương dễ bị vận dụng tùy tiện; quyền lực dễ bị tha hóa; kỷ luật, kỷ cương dễ bị buông lỏng.

Bối cảnh phát triển mới của đất nước đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác kiểm tra, giám sát. Quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo làm cho quyền lực được vận hành trong không gian rộng hơn, tốc độ nhanh hơn, quan hệ quản lý phức tạp hơn. Cùng với thời cơ phát triển là nguy cơ lạm quyền, lợi dụng quyền lực, né tránh trách nhiệm, lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với phương thức tinh vi hơn. Vì vậy, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ là tăng số cuộc kiểm tra hoặc xử lý nghiêm hơn sau khi vi phạm đã xảy ra mà đổi mới phải bắt đầu từ tư duy: kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo, cơ chế kiểm soát quyền lực, công cụ phòng ngừa và thúc đẩy thực hiện nghị quyết của Đảng.

Tinh thần đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07-4-2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV “Về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng”; Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11-4-2026 “Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”; Kết luận số 43-KL/TW, ngày 04-6-2026 của Bộ Chính trị “Tiếp tục thực hiện Kết luận số 34-KL/TW về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030”. Đây là những căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để đổi mới toàn diện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong giai đoạn mới.

Đối với Đảng cầm quyền, kiểm tra, giám sát là cơ chế để Đảng tự kiểm soát quyền lực trong nội bộ, tự phát hiện biểu hiện suy thoái, lệch chuẩn, tự sửa chữa khuyết điểm, tự làm trong sạch đội ngũ, tự nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Quyền lực chính trị nếu không được kiểm tra, giám sát thường xuyên có thể bị cá nhân hóa, cục bộ hóa, lợi ích hóa. Vì vậy, kiểm tra, giám sát là cơ chế giữ cho quyền lực trong Đảng vận hành đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền, đúng mục tiêu và đúng lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc và Nhân dân.

Cần nhận thức rõ sự khác nhau nhưng thống nhất giữa kiểm tra và giám sát. Kiểm tra thường gắn với việc xem xét, đánh giá, kết luận, xử lý hoặc kiến nghị xử lý khi cần thiết; giám sát có tính theo dõi, nắm tình hình, cảnh báo, uốn nắn, phòng ngừa. Kiểm tra để xử lý nghiêm; giám sát thường xuyên để phòng ngừa sớm. Hai hoạt động này không tách rời, mà bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau, tạo thành cơ chế kiểm soát nội bộ của Đảng. Đồng thời, cần khắc phục nhận thức coi kiểm tra, giám sát chỉ là nhiệm vụ riêng của ủy ban kiểm tra. Ủy ban kiểm tra là cơ quan chuyên trách, giữ vai trò nòng cốt, nhưng công tác kiểm tra, giám sát là trách nhiệm của toàn Đảng, của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, chi bộ và từng đảng viên, với tinh thần ở đâu có hoạt động của Đảng, ở đó có kiểm tra, giám sát.

Từ góc độ kiểm soát quyền lực, công tác kiểm tra, giám sát phải tập trung vào nơi quyền lực dễ bị tha hóa: công tác cán bộ; đất đai, tài nguyên, tài chính, ngân hàng, đầu tư công; mua sắm tài sản công, đấu thầu, đấu giá; vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; kiểm soát tài sản, thu nhập; thực hiện kết luận thanh tra, kiểm toán. Không chỉ kiểm tra hành vi cá nhân, công tác kiểm tra, giám sát phải đi vào chuỗi vận hành quyền lực: ai quyết định, căn cứ nào, quy trình có bị thao túng không, lợi ích phát sinh ở đâu, trách nhiệm của tổ chức đảng và người đứng đầu thế nào.

Gắn kiểm tra, giám sát với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vì vậy không chỉ là phát hiện, xử lý vụ việc đã xảy ra, mà quan trọng hơn là nhận diện cơ chế phát sinh vi phạm. Vi phạm nhiều khi không chỉ nằm ở một hành vi đơn lẻ, mà bắt nguồn từ khoảng trống thể chế, quy trình thiếu chặt chẽ, phân công trách nhiệm không rõ, không công khai, minh bạch; giám sát nội bộ yếu; phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả. Nếu chỉ xử lý con người mà không sửa đổi cơ chế, chỉ xử lý vụ việc mà không kiểm soát quy trình, chỉ kỷ luật cá nhân mà không làm rõ trách nhiệm tổ chức đảng và người đứng đầu, nguy cơ tái diễn vi phạm vẫn còn.

Kiểm tra, giám sát cũng phải xử lý đúng quan hệ giữa “chống sai” và “khuyến khích làm đúng”. Phải nghiêm khắc với vi phạm do vụ lợi, cố ý làm trái, lạm quyền, lợi ích nhóm; nhưng cũng phải công tâm, khách quan, phân biệt rõ sai phạm với sai sót trong quá trình đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung. Như vậy, kiểm tra, giám sát vừa là công cụ kỷ luật quyền lực, vừa là cơ chế bảo vệ cái đúng, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đảng lãnh đạo không chỉ thể hiện ở việc đề ra đường lối, chủ trương, nghị quyết, mà còn ở năng lực tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện, giám sát quá trình thực hiện, kịp thời phát hiện đúng - sai, tốt - chưa tốt để điều chỉnh, chấn chỉnh, xử lý và hoàn thiện. Một nghị quyết đúng chỉ có thể phát huy hiệu lực khi được triển khai nghiêm túc, được kiểm tra, giám sát thường xuyên và được bảo đảm bằng kỷ luật nghiêm minh. Do đó, kiểm tra, giám sát là khâu không thể thiếu trong chu trình lãnh đạo: ban hành chủ trương - tổ chức thực hiện - kiểm tra, giám sát - sơ kết, tổng kết - điều chỉnh, hoàn thiện.

Chuyển từ kiểm tra sau vi phạm sang giám sát thường xuyên, phòng ngừa từ sớm, từ xa

Một trọng tâm đổi mới hiện nay là chuyển từ cách tiếp cận nặng về kiểm tra sau vi phạm sang giám sát thường xuyên, chủ động ngay từ đầu, phòng ngừa từ sớm, từ xa. Đây không phải là sự thay thế kiểm tra bằng giám sát, không làm giảm tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng, mà là bước phát triển cao hơn trong tư duy kiểm soát quyền lực: xử lý nghiêm khi có vi phạm, nhưng quan trọng hơn là phát hiện sớm, cảnh báo sớm, ngăn ngừa sớm để không xảy ra vi phạm hoặc không để vi phạm nhỏ phát triển thành vi phạm nghiêm trọng.

Nếu chỉ chú trọng kiểm tra sau vi phạm, công tác kiểm tra dễ rơi vào thế thụ động; khi hậu quả đã phát sinh, chi phí chính trị, kinh tế, tổ chức và thiệt hại về cán bộ thường rất lớn. Một nền kỷ luật hiệu quả không chỉ đo bằng số vụ việc xử lý, mà còn bằng khả năng phòng ngừa, cảnh báo, ngăn chặn vi phạm ngay từ khi mới manh nha. Giám sát thường xuyên có ý nghĩa ở điểm đó. Thông qua giám sát, cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp có thể nắm chắc tình hình tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng; theo dõi trách nhiệm của người đứng đầu; phát hiện biểu hiện trì trệ, né tránh, đùn đẩy, buông lỏng quản lý, làm sai quy trình, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, biểu hiện suy thoái, lợi ích nhóm, lạm dụng quyền lực. Khi những biểu hiện đó được nhận diện sớm, cảnh báo sớm và uốn nắn kịp thời, công tác kiểm tra, giám sát thực sự trở thành công cụ phòng ngừa, xây dựng, bảo vệ tổ chức và cán bộ.

Điểm mới đáng chú ý trong nhiệm kỳ Đại hội XIV là công tác kiểm tra, giám sát được đặt ngay từ đầu nhiệm kỳ, gắn trực tiếp với việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng. Việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành lập 22 đoàn kiểm tra, giám sát đối với 40 tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư làm Trưởng đoàn, thể hiện cách làm mới: kiểm tra, giám sát không chỉ để phát hiện sai phạm, mà còn để theo dõi việc tổ chức thực hiện nghị quyết ngay trong quá trình triển khai; phát hiện cách làm đổi mới, sáng tạo để nhân rộng; phản ánh khó khăn, vướng mắc, kiến nghị Trung ương có giải pháp phù hợp. Các đoàn kiểm tra, giám sát này có trách nhiệm theo dõi, giám sát thường xuyên cho đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIV, dự kiến đến năm 2030. Đây là sự chuyển dịch từ kiểm tra thụ động sang giám sát chủ động, từ xử lý hậu quả sang bảo đảm hiệu quả lãnh đạo.

Thực tiễn những tháng đầu năm 2026 cho thấy mạch đổi mới này đang được triển khai đồng bộ hơn: tham mưu Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng và năm 2026; thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng trực thuộc Trung ương; giám sát, theo dõi, đôn đốc việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, quy định của Đảng và nhiệm vụ được giao. Các hội nghị giao ban quý I-2026 cũng nhấn mạnh yêu cầu chương trình kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm; triển khai giám sát chuyên đề, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, tổ giám sát thường xuyên. Hoạt động kiểm tra, giám sát không chỉ được thực hiện ở cấp Trung ương mà còn được triển khai thống nhất tại các địa phương nhằm bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị và quy định của Đảng, của cấp ủy các cấp được triển khai đúng kế hoạch đề ra.

Giám sát thường xuyên không có nghĩa là tăng thêm thủ tục hành chính, càng không phải là kiểm tra dàn trải. Giám sát phải bám sát nhiệm vụ chính trị, tập trung vào lĩnh vực trọng yếu, địa bàn phức tạp, vị trí công tác nhạy cảm, chương trình, dự án có nguồn lực lớn, những khâu dễ phát sinh tiêu cực. Giám sát phải dựa trên thông tin đầy đủ, dữ liệu cập nhật, kênh phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm rõ của cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan được giám sát. Đặc biệt, phải giám sát việc thực hiện kết luận sau kiểm tra, thanh tra, kiểm toán. Một kết luận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện nghiêm túc, khắc phục được hạn chế, xử lý được trách nhiệm, thu hồi được tài sản thất thoát, bịt được lỗ hổng thể chế. Vì vậy, hậu kiểm phải trở thành khâu bắt buộc, có địa chỉ trách nhiệm, thời hạn, tiêu chí đánh giá và chế tài đối với trường hợp chậm trễ, né tránh, thực hiện hình thức.

Hoàn thiện thể chế, phối hợp liên thông và hiện đại hóa trên dữ liệu

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát phải được thể chế hóa bằng hệ thống quy định, quy trình, phương pháp cụ thể. Nhận thức đúng nhưng không có công cụ thực hiện phù hợp thì hiệu lực không bền vững. Chủ trương đúng nhưng quy trình không rõ, thẩm quyền không chặt, phối hợp không thông, dữ liệu không đầy đủ, trách nhiệm không xác định rõ thì khó tạo chuyển biến thực chất. Vì vậy, hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ then chốt.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật theo hướng đồng bộ, chặt chẽ, khoa học, bám sát thực tiễn và liên thông với pháp luật của Nhà nước. Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11-4-2026 của Ban Chấp hành Trung ương “Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” là căn cứ quan trọng để cụ thể hóa yêu cầu mới. Hoàn thiện quy trình kiểm tra, giám sát cần đi theo hướng rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ cơ chế theo dõi sau kết luận; tăng cường kiểm tra theo chuyên đề, theo lĩnh vực rủi ro, theo chuỗi hoạt động; tăng kiểm tra hồ sơ gốc, dữ liệu, hiện trường, dòng tiền, dòng tài sản, chuỗi quyết định và trách nhiệm cá nhân, tổ chức.

Trong điều kiện vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên ngày càng phức tạp, công tác kiểm tra, giám sát không thể vận hành đơn tuyến, khép kín. Nhiều vụ việc liên quan đồng thời đến kỷ luật Đảng, trách nhiệm hành chính, kinh tế, dân sự, hình sự, tài sản công, tài chính công, đất đai, đầu tư, đấu thầu, ngân hàng, công tác cán bộ. Vì vậy, phải tăng cường phối hợp giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán, nội chính, công an, viện kiểm sát, tòa án, thi hành án và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

Phối hợp không chỉ là trao đổi văn bản, cung cấp hồ sơ theo từng vụ việc. Sâu xa hơn, phối hợp là một bộ phận của cơ chế kiểm soát quyền lực. Khi kiểm tra Đảng, thanh tra nhà nước, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, quản lý nhà nước chuyên ngành được kết nối đúng chức năng, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc, thông tin về vi phạm sẽ đầy đủ hơn, xử lý kịp thời hơn, trách nhiệm được xem xét toàn diện hơn. Ngược lại, nếu mỗi cơ quan vận hành tách rời, thông tin phân tán, dữ liệu không liên thông, kết luận không được chia sẻ, kiến nghị không được theo dõi, nguy cơ bỏ sót vi phạm, chậm xử lý, xử lý không đồng bộ là rất lớn.

Tinh thần đổi mới là chuyển từ phối hợp thụ động sang phối hợp chủ động; từ phối hợp theo vụ việc sang phối hợp thường xuyên; từ trao đổi hồ sơ đơn lẻ sang liên thông thông tin, dữ liệu có kiểm soát; từ xử lý sau vi phạm sang nhận diện sớm dấu hiệu, rủi ro, biểu hiện lệch chuẩn. Thực tiễn phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với Đảng ủy Công an Trung ương cho thấy yêu cầu mới là sửa đổi, bổ sung quy chế phối hợp cho phù hợp với các quy định mới của Đảng và thực tiễn, trong đó chú trọng kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung, tăng cường trao đổi thông tin nghiệp vụ, số hóa, hiện đại hóa công tác kiểm tra, giám sát. Đây là biểu hiện cụ thể của sự chuyển đổi từ phối hợp hành chính sang phối hợp dựa trên dữ liệu, từ phản ứng sau vụ việc sang phòng ngừa, cảnh báo và xử lý sớm.

Cùng với hoàn thiện thể chế và phối hợp liên thông, hiện đại hóa công tác kiểm tra, giám sát trên dữ liệu là yêu cầu có tính đột phá. Khi hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành, tài chính, đầu tư, đất đai, tài sản, nhân sự, văn bản, hồ sơ, báo cáo vận hành trên môi trường số, công tác kiểm tra, giám sát không thể chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy, báo cáo thủ công, thông tin rời rạc. Chuyển đổi số trong ngành Kiểm tra Đảng không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin, mà là đổi mới phương thức hoạt động: giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu, cảnh báo rủi ro trên dữ liệu, điều hành công việc trên dữ liệu.

Kiểm tra, giám sát trên dữ liệu đòi hỏi xây dựng, quản lý, kết nối, khai thác, phân tích các cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung, được phân quyền khai thác và bảo mật chặt chẽ. Giá trị lớn nhất của kiểm tra, giám sát trên dữ liệu là khả năng phát hiện sớm bất thường: chậm thực hiện kết luận; tái diễn vi phạm ở một lĩnh vực; bất thường trong bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ; bất thường trong quản lý tài sản, thu nhập; dự án chậm tiến độ, đội vốn, điều chỉnh nhiều lần; kết luận thanh tra, kiểm toán chậm được khắc phục. Những cảnh báo đó giúp lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm, giảm dàn trải, tăng tính chủ động và khách quan. Tuy nhiên, hiện đại hóa trên dữ liệu phải gắn với bảo vệ bí mật của Đảng, bí mật nhà nước, an toàn thông tin, an ninh mạng; đồng thời phải chống hình thức, chống lãng phí trong chuyển đổi số.

Trong môi trường kiểm tra, giám sát trên dữ liệu, cán bộ kiểm tra phải có năng lực số: biết khai thác cơ sở dữ liệu, sử dụng phần mềm nghiệp vụ, đọc các chỉ báo rủi ro, hiểu logic dữ liệu, phối hợp với cán bộ công nghệ thông tin, bảo vệ dữ liệu và bí mật thông tin. Kỹ năng số không còn là kỹ năng phụ trợ, mà trở thành một thành tố trong năng lực nghề nghiệp của cán bộ kiểm tra.

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu khách quan, cấp thiết và lâu dài. Đó không chỉ là đổi mới một lĩnh vực nghiệp vụ của công tác xây dựng Đảng, mà là đổi mới một phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển với nhiều thời cơ, thách thức đan xen; khi quyền lực được phân cấp, phân quyền mạnh hơn; khi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có thể xuất hiện dưới những hình thức tinh vi hơn; khi chuyển đổi số làm thay đổi căn bản cách thức quản lý và điều hành, công tác kiểm tra, giám sát phải đổi mới mạnh mẽ, chủ động, hiện đại, hiệu lực hơn.

Có thể khái quát tinh thần đổi mới trên một số chuyển động lớn: từ nhận thức kiểm tra, giám sát như hoạt động nghiệp vụ thuần túy sang nhận thức đây là phương thức lãnh đạo, cơ chế tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện và kiểm soát quyền lực của Đảng; từ kiểm tra chủ yếu sau vi phạm sang giám sát thường xuyên, phòng ngừa, cảnh báo từ sớm, từ xa; từ xử lý vụ việc đơn lẻ sang kiểm soát quyền lực theo chuỗi, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ cơ chế, quy trình và trách nhiệm; từ phương pháp thủ công, phân tán sang kiểm tra, giám sát trên dữ liệu, phối hợp liên thông, khai thác thông tin có kiểm soát; từ yêu cầu cán bộ kiểm tra có kinh nghiệm sang yêu cầu đội ngũ bản lĩnh, liêm chính, chuyên nghiệp, có năng lực chuyên sâu và năng lực số. Trong giai đoạn mới, kiểm tra, giám sát phải nghiêm để không ai dám vi phạm; phải thường xuyên để không ai có thể lợi dụng khoảng trống quyền lực; phải công tâm để bảo vệ người làm đúng; phải hiện đại để theo kịp thực tiễn; phải liên thông để không bỏ lọt trách nhiệm; phải nhân văn, xây dựng để kỷ luật Đảng không chỉ là xử lý, mà còn là giáo dục, cảnh tỉnh, phòng ngừa và phát triển./.

TS. Nguyễn Thị Minh Phương

Phó Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Đào tạo nghiệp vụ

Cơ quan UBKT Trung ương


Tin mới

Hoạt động của UBKT trung ương

Tài liệu - Tư liệu