Từ ý tưởng dời phủ lỵ của viên quan đứng đầu tỉnh Hà Nội

Nguyễn Văn Hiếu (1764 - 1833), người huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Thuở nhỏ, nhà nghèo, Nguyễn Văn Hiếu phải đi cắt cỏ thuê để kiếm sống. Lớn lên, ông ra lính, phò Nguyễn Ánh (sau này được phong là "Công thần Vọng Các" của Vua Gia Long), lập được nhiều công lao và được thăng bổ nhiều chức quan khác nhau.

Sử cũ ghi lại, Nguyễn Văn Hiếu là người khiêm tốn, trị dân có chính sự tốt, quả quyết, thận trọng trong việc dùng quyền hành của mình. Đặc biệt, ông nổi tiếng thanh liêm, nghiêm cấm người nhà được giao thiệp với người ngoài. Hằng năm vào dịp Tết, các quan lại dưới quyền và dân chúng mang tiền, quà đến biếu xén nhưng ông đều từ chối. Có lần, vào năm Quý Mùi đời Vua Minh Mệnh (năm 1823), khi đang là Trấn thủ (quan đứng đầu trấn) Thanh Hoa, có viên thổ ty đem lễ rất hậu vào yết kiến. Nguyễn Văn Hiếu ôn tồn khước từ, bắt mang về, người đầy tớ của ông ở dưới bếp lẻn ra, dọa nạt, lấy lại một nửa phần lễ. Nguyễn Văn Hiếu biết tin, rất giận, sai lôi người đó ra chém. Người nhà và các quan lại hết mực can ngăn đều không được. Sau đó, ông dâng Sớ xin chịu tội. Vua Minh Mệnh cho rằng, Nguyễn Văn Hiếu làm như vậy để khuyến khích việc thanh liêm, nhưng lại tự tiện đem giết tên đầy tớ đó nên giáng ông ba cấp, nhưng được lưu chức.

Vì Nguyễn Văn Hiếu sống thanh liêm nên cửa nhà ông rất bình thường. Lương bổng của ông chỉ đủ chi tiêu. Vợ ông nhiều lần đem việc đó ra nói, nhưng ông chỉ cười mà bảo rằng: "Phu nhân không nhớ lúc còn phải cắt cỏ để nuôi thân ư? Lấy nay mà so với xưa thì đã sướng gấp hai gấp năm là gì, lẽ nào lại muốn lấy của bất nghĩa để làm giàu ư?". Từ đó, vợ ông không dám nói đến lợi lộc, tài sản nữa. Tuy xuất thân là võ quan, nhưng Nguyễn Văn Hiếu có cử chỉ, phong độ của một Nho tướng. Nhiều tân khoa cử nhân sau khi nhận vinh ân đã đến yết kiến ông, được ông khoản đãi ân cần, nhân đó bảo họ rằng, đèn sách mười năm mới có ngày nay, rất mừng cho các bạn hiền, ngày khác được ra làm quan, cũng phải nên (sống) như lúc nhà nghèo tần khổ mới được, chớ nên xa xỉ, điếm nhục thân danh, để có phụ ý tốt của triều đình đối với việc kén chọn nhân tài.

Nguyễn Văn Hiếu làm quan ở đâu cũng cần mẫn, được dân tin yêu, đối đãi với mọi người hòa nhã, giản dị, lại hay nghiêm trị các lại dịch làm bậy, khiến họ phải kính sợ. Trong địa hạt ông nhậm trị, có nhiều trộm cướp, ông đem bộ thuộc đi bắt, khiến bọn trộm cướp bảo nhau rằng: "Quan trấn nhân huệ, là Phật ra đời, bọn ta nên kính cẩn lánh đi". Vì thế trong hạt đều được yên.

Khi Nguyễn Văn Hiếu mất, Vua Minh Mệnh rất thương, cho thực thụ chức Tả quân phủ Đô thống, Chưởng Phủ sự, cấp cho 1000 quan tiền, sai quan đến tế. Năm Tự Đức thứ ba (Canh Tuất, 1850), được đưa vào thờ ở miếu Trung hưng công thần ở Huế.

Tháng Mười năm Tân Mão (tháng 11 năm 1831), Minh Mệnh thực hiện cuộc cải cách hành chính ở ngoài Bắc, bãi bỏ cấp trấn, lập thành 18 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Nội, là một tỉnh lớn, gồm phủ Phụng Thiên (Kinh đô Thăng Long cũ) cùng toàn bộ trấn Sơn Nam Thượng và huyện Từ Liêm của trấn Sơn Tây. Là vị quan có nhiều kinh nghiệm cai trị, có uy tín lớn nên Nguyễn Văn Hiếu được Vua Minh Mệnh bổ làm Tổng đốc Hà - Ninh (cai quản cả hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình). Từ tháng Giêng năm Nhâm Thìn (tháng 2 năm 1832), ông còn kiêm chức Tuần phủ Hà Nội, đến tháng Bảy cùng năm, ông được triệu về Kinh.

Trong thời gian làm Tổng đốc Hà - Ninh kiêm Tuần phủ Hà Nội, Nguyễn Văn Hiếu có bốn đề xuất đối với tỉnh này và tất cả đều được chấp nhận, trong đó có  đề xuất thứ nhất, liên quan đến việc đặt lỵ sở của phủ Hoài Đức. Vốn là, trước năm 1832, phủ lỵ Hoài Đức ở thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương (kề cận khu vực Phủ Doãn thời Lê ; nay là khu vực các phố Phủ Doãn, Lý Quốc Sư, Ngõ Huyện, Ấu Triệu). Nơi đây rất chật hẹp, nằm trong khu dân cư buôn bán tấp nập kết hợp làm các nghề thủ công, không khỏi ảnh hưởng đến hoạt động của công đường. Vì vậy, vào tháng Giêng năm Nhâm Thìn (tháng 2 năm 1832), Nguyễn Văn Hiếu dâng Sớ với nội dung: "Huyện Từ Liêm ở phủ Hoài Đức, nguyên là một huyện lớn thuộc Sơn Tây, đất rộng, dân nhiều, thường xảy ra giặc cướp, thực là chỗ sung yếu, bận rộn, vất vả khó khăn. Vả lại, tiếp giáp địa đầu hai bên xứ Tây Bắc, công vịêc cầm phòng rất là trọng yếu. Thần đã thân đi ngắm xem hình thế, duy có xã Dịch Vọng ở giữa huyện hạt (Từ Liêm), chỗ ấy sáng sủa, cao ráo, có thể đặt đồn trại để đóng trọng binh. Vậy xin lập phủ thành ở đây để quản phủ, tri phủ cùng đóng và lấy huyện Từ Liêm làm phủ nha kiêm lý. Còn phủ lỵ Hoài Đức cũ đổi làm huyện lỵ Thọ Xương". Ông cũng đề nghị: "Hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận đều ở trong ngoài thành Đại La thuộc tỉnh lỵ, đinh thưa ruộng ít, công việc hơi giản dị. Vậy xin theo lệ như hai huyện Sơn Dương và Đăng Đạo thuộc Sơn Tây, đặt một viên Tri huyện Thọ Xương kiêm lý cả Vĩnh Thuận. Còn phủ lỵ Hoài Đức cũ đổi làm huyện lỵ Thọ Xương. Huyện Từ Liêm là nơi cần yếu, cho đặt một viên Tri huyện".

Vua Minh Mệnh cho là phải, bèn cho dời phủ lỵ lên Dịch Vọng (thôn Dịch Vọng Hậu, khu vực Học viện Báo chí và Tuyên giáo, thuộc phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy). Tại đây, đắp một thành đất theo quy định. Khi phủ xây xong, phủ lỵ cũ được dùng làm huyện lỵ huyện Thọ Xương. Người các nơi về khu vực phủ mới buôn bán, công chức, binh lính cùng gia đình dựng nhà ở ngoài cửa phủ, lập thành một phố đông đúc, sau thành một đơn vị hành chính riêng, gọi là phố Tiền Môn thuộc tổng Dịch Vọng.

Từ câu chuyện trên đây nổi lên hai vấn đề:

Một là, việc chọn cử người đứng đầu chính quyền tỉnh Hà Nội thời Nguyễn vẫn tiếp nối những truyền thống của các vương triều trước, là chọn người trung thành, người tài năng và người thanh liêm; đồng thời phải là người có học thức. Phần lớn thời gian của hơn tám thế kỷ (từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVIII), với tên gọi Thăng Long, đây Kinh đô của nước Đại Việt, là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - giáo dục của cả nước. Từ thời Tây Sơn trở đi, Thăng Long không còn là Kinh đô, song vẫn là trung tâm của trấn Bắc Thành. Đến khi Vua Minh Mệnh tiến hành cuộc cải cách hành chính tháng 11 năm 1831, tỉnh Hà Nội - một tỉnh lớn, quan trọng ở ngoài Bắc, gồm cả phần đô thị là cố đô cũ (Thăng Long) với vùng nông thôn rộng lớn.

Với vị trí trọng yếu trên đây của Thăng Long - Hà Nội, nhà nước phong kiến các thời luôn quan tâm đến việc quản lý đô thị này, bởi sự ổn định và phát triển của nó có ảnh hưởng rất lớn đến các mặt chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước. Trong việc quản lý Thăng Long - Hà Nội, việc cử người đứng đầu đơn vị hành chính này rất hệ trọng, vì năng lực, phẩm chất và các hoạt động cụ thể của họ không chỉ quyết định phần quan trọng đến sự phát triển của đơn vị đó mà còn ảnh hưởng lớn đến các mặt đời sống của đất nước.

Trong trường hợp đang bàn, khi tỉnh Hà Nội vừa mới được thành lập, vua Minh Mệnh đã bổ Nguyễn Văn Hiếu giữ chức Tổng đốc, bởi ông hội tụ đủ các yếu tố: Trung thành, tài năng, thanh liêm và có học thức, dù ông chỉ là võ quan. Chính vì thế, chỉ trong hơn một năm nhậm trị, Nguyễn Văn Hiếu đã đề xuất bốn sang kiến phục vụ sự ổn định và phát triển của Hà Nội và đều được Vua Minh Mệnh chấp thuận, cho thực thi(1).

Hai là, sang kiến dời phủ lỵ Hoài Đức từ thôn Tiên Thị về làng Dịch Vọng (huyện Từ Liêm) của Nguyễn Văn Hiếu không chỉ nhằm "giải phóng" cho cơ quan phủ lỵ khỏi sự "bao vây" của khu dân cư, mà còn nhằm mở rộng  khu vực đô thị ra vùng nông thôn. Điều này cho thấy Nguyễn Văn Hiếu là vị quan sâu sát với thực tế địa phương, nhìn xa trông rộng trong sự phát triển của Hà Nội nói chung, đô thị nói riêng, hay có tầm nhìn về đô thị hóa rất sớm. Câu chuyện có thể liên tưởng đến việc dời các cơ quan hành chính từ trung tâm nội thành ra vùng ven đô và ngoại thành hiện nay./.

------------------------------------  

(1) Ngoài sáng kiến chuyển phủ lỵ Hoài Đức, ba sáng kiến còn lại là quản lý chặt hoạt động buôn buốn của thương nhân nhà Thanh và hai sáng kiến liên quan đến đê điều.

Thạch Thiết Hà