Nguyễn Tư Giản với tư tưởng canh tân đất nước

Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890), tên thật là Nguyễn Văn Phú, quê ở xã Du Lâm, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc; nay là thôn Du Nội, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tổ tiên ông là hậu duệ một nhánh hoàng tộc nhà Lý, vì trốn chạy khỏi sự truy bức của Trần Thủ Độ mà phải cải thành họ Nguyễn, phiêu bạt nhiều nơi rồi về cư ngụ ở Kẻ Đóm (nay là làng Vân Điềm, xã Vân Hà, huyện Đông Anh). Đến đầu thế kỷ XIX, một nhánh của họ Nguyễn Vân Điềm do Nguyễn Án - tác giả của cuốn Tang thương ngẫu lục nổi tiếng đã chuyển cư sang làng Du Lâm. Tại làng mới này, dòng tộc Nguyễn tiếp tục phát đạt về mặt khoa cử với 2 tiến sĩ và hàng chục hương cống - cử nhân, trong đó Nguyễn Văn Phú (cháu nội Nguyễn Án) là người đạt học vị cao nhất (ông đỗ hoàng giáp khoa Giáp Thìn đời Vua Thiệu Trị, năm 1844, khi mới 22 tuổi). Sử cũ ghi lại, Nguyễn Văn Phú là người có tài, hết lòng vì nước, cương trực, thanh liêm, về hưu không một tấc đất, một gian nhà ở quê; được vua phê bút son đổi tên là Nguyễn Tư Giản(1). Ông đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Vua Tự Đức, cao nhất là Thượng thư bộ Lại, từng đi sứ sang nhà Thanh năm Mậu Thìn - 1868, tham gia chỉ huy tiễu phỉ ở vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Với cương vị Hiệp lý đê chính Bắc Kỳ những năm 1857-1862, Nguyễn Tư Giản đã đề xuất nhiều sáng kiến vào công cuộc trị thuỷ cho vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Là vị quan luôn lo lắng cho vận mệnh của dân, của nước, Nguyễn Tư Giản đã nhiều lần dâng sớ, làm các bài ứng chế có nội dung cổ vũ cho việc canh tân đất nước. Xin giới thiệu một trong những nội dung chính trong tư tưởng canh tân của ông.

Theo Nguyễn Tư Giản, để ứng phó được với những khó khăn của thời cuộc (chỉ họa xâm lược của Thực dân Pháp đối với nước ta từ giữa thế kỷ XIX), cần phải làm cho nước mạnh, dân giàu. Muốn thế, điều cần phải làm ngay là thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, thay đổi tình trạng kém hiệu quả của bộ máy nhà nước đang diễn ra trầm trọng. Trong bài "Ứng chế" viết gửi Vua Tự Đức năm Quý Dậu - 1873, Nguyễn Tư Giản đã nêu lên 6 tệ lớn của quan lại các cấp đương thời, mà nhức nhối hơn cả là nạn tham nhũng và tình trạng quá nhiều quan lại nhàn tản. Điều này, theo Nguyễn Tư Giản, không chỉ liên quan đến đạo đức của người làm quan như nhiều người trước đó đã chỉ ra, mà trước hết là do chế độ lương bổng, việc đãi ngộ nhân tài, thể chế làm việc của nhà nước và sự nghiêm minh của luật pháp có những vấn đề bất cập. Ông viết một cách thẳng thắn với vua: "Nay, ở trong Kinh đô thì các nha môn thuộc sáu bộ, ngoài Kinh thì từ tỉnh, phủ, huyện châu, cho đến dinh vệ, số viên chức lên tới hàng vạn, bệ hạ có chắc họ trong sạch cả không? Lương cấp cho họ có đủ để trên thì phụng dưỡng cha mẹ, dưới thì nuôi nấng vợ con không? Với cảnh lương bổng ít ỏi như hiện nay mà ngày nào cũng yêu cầu quan lại phải thanh liêm thì khác nào ngựa nuôi trong chuồng, rơm cỏ không cho ăn đủ mà đòi trở thành thiên lý mã; cây trồng vừa mới lớn, nước nôi không tưới đều mà đòi trở thành danh mộc to mấy sải ôm. Trong khi đói rét bức bách, hình pháp đốc thúc, triều đình đãi ngộ nhân tài một cách vô liêm sỉ như vậy thì quan lại làm sao không tham nhũng, dân chúng làm sao không khốn khổ?".

Về tình trạng có quá nhiều quan lại "ngồi chơi xơi nước", Nguyễn Tư Giản chỉ rõ, đó là do bộ máy hành chính quá cồng kềnh. Ông viết: "Đất chỉ vừa bằng một huyện thì bày đặt số quan lại cho một tỉnh, đất chỉ vừa một tổng thì bày ra thành một phủ, đất chỉ vừa một ấp thì bày ra thành một huyện, số quan lại văn võ trong và ngoài triều đình ăn lương nhà nước do vậy mà trở nên quá đông. Quan nhiều thì công việc không thể không rối rắm, mà công việc đã rối rắm thì dân không thể không oán trách. Ấy là cái nạn "nhũng viên", tức những kẻ nhàn tản quá nhiều trong cơ quan nhà nước".

Để giảm bớt các tình trạng đã trở thành tệ nạn trên đây, Nguyễn Tư Giản đề nghị thải bớt quan lại, nhất là những người tư cách kém, không có năng lực, chọn lọc người tài năng vào các cơ quan nhà nước, trả lương thích đáng cho họ; đặc biệt, cần đào tạo lại đội ngũ quan lại trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý hành chính, trước hết là những người giữ vai trò "cầm cân nảy mực" ở triều đình. Thực hiện ý tưởng đó, Nguyễn Tư Giản đã cùng một số đình thần đề nghị Vua Tự Đức mở các buổi thuyết giảng các tác phẩm về thuật trị nước an dân của người xưa, nhằm bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực quản lý đất nước cho quan lại trong triều, bởi theo ông, đó là biện pháp để "trình bày tường tận cái học của các bậc thánh, bồi dưỡng đức độ cho nhà vua hiểu được nỗi sâu kín trong lòng dân, cứu xét những đắc thất trong việc trị nước".

Vua Tự Đức đã chấp thuận đề nghị này và buổi thuyết giảng đầu tiên đã được tổ chức vào tháng Hai năm Kỷ Dậu (khoảng tháng 3 năm 1849). Tại buổi khai giảng này, Nguyễn Tư Giản đã làm bài Phú có đoạn: "Chiếu giảng đã bày, cử tọa tề chỉnh, giảng quan mở sách kinh điển, giảng giải những chỗ thực hư khó phân biệt, cùng những ý nghĩ sâu xa để thấy rõ con đường trị loạn hưng phế, hiểu được chuẩn mực của tu - tề - trị - bình". Ngoài các buổi "bồi dưỡng kiến thức" đại trà như trên, Nguyễn Tư Giản còn đưa ra hình thức đào tạo bồi dưỡng mang tính chuyên sâu là "ngự chế" và "ứng chế". Ngự chế là nhà vua nêu một vấn đề bức xúc của đất nước đề các quan "ứng chế", tức trình bày những quan điểm cùng các kiến giải về các vấn đề đó. Nhiều quan đại thần là các nhà khoa bảng đã tham gia các chuyên đề trên đây. Riêng Nguyễn Tư Giản đã có nhiều bài có ý nghĩa thực tiễn lớn như "Bàn về việc học phải lấy việc phục vụ đời sống làm đầu", "Làm cho quan lại có thói quen thành thật đáng tin cậy" và "Nhân hòa hơn thiên thời địa lợi"...

Như vậy, một trong những tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Tư Giản nhằm vào việc cải cách bộ máy hành chính, nâng cao hiệu quả của bộ máy nhà nước mà trước hết và trọng tâm là thải bớt quan lại nhàn tản, xây dựng đội ngũ quan lại tài năng và thanh liêm, bằng cách tăng cường bồi dưỡng trình độ lý luận và thực tiễn để năng lực quản lý hành chính cho họ, trả lương thích đáng để họ yên tâm làm việc. Tư tưởng đó của ông vẫn đúng với việc cải cách hành chính của đất nước ta hiện nay.  

Một phần cuộc đời làm quan của Nguyễn Tư Giản gắn với giai đoạn đất nước bị Thực dân Pháp từng bước xâm chiếm và triều đình nhà Nguyễn bất lực trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nguyễn Tư Giản đứng trong hàng ngũ phe "chủ chiến". Năm  Kỷ Mão - 1859,  ông đã gửi lên Vua Tự Đức một tập "gián ngôn" khuyên Vua cần kiên trì kháng chiến, giữ được chủ quyền đất nước. Nhưng khi đó, vua quan nhà Nguyễn yếu hèn, bạc nhược, nên để lãnh thổ đất nước từng bước rơi vào tay giặc. Trước tình thế đó, sau khi đi sứ Trung Quốc về (tháng Hai năm Canh Ngọ, 1870), Nguyễn Tư Giản đã cùng các nhân sĩ thức thời khi đó như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện... dâng sớ lên Tự Đức trình bày một kế hoạch "canh tân tự cường", bằng các giải pháp mở rộng bang giao với các nước phương Tây, gửi học sinh ra nước ngoài học tập, như các nước Nhật Bản, Xiêm đang tiến hành. Nhưng, những đề nghị cải cách hợp thời của ông và các đồng liêu không được chấp nhận. Cuối đời, Nguyễn Tư Giản vẫn không từ bỏ ý định đưa thanh niên ra nước ngoài học tập. Ông đã đưa một người con của mình xuống Hải Phòng, tìm kế xuất dương sang Hương Cảng nhưng ý định không thành, khép lại một ước vọng canh tân không có cơ may thực hiện.

Gần 70 tuổi đời, hơn 40 năm làm quan với bao chìm nổi, thăng trầm, Nguyễn Tư Giản vẫn thể hiện một tấm lòng ưu tư đến vận dân, vận nước, một vị quan có tài, thanh liêm, cương trực, một nhân cách cao thượng cùng một bản lĩnh vững vàng của một đại trượng phu, một danh nho quân tử./.

(Theo các sách Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản - Cuộc đời và thơ văn; Đại Nam thực lục)

----------------

(1) Tư Giản ở đây có hiểu là người đem tài năng, sách vở để đóng góp cho đời, khác với "Phú" là giàu (người chuyên tâm lo làm giàu).

Thạch Thiết Hà