Cho liêm khiết trở thành thường lệ

Nguyễn Đăng Huân tự là Hy Khiêm, sinh năm Giáp Tý (1804), người làng Hương Ngải, huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội), đỗ đình nguyên - hoàng giáp khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mệnh (năm 1829) khi ông 26 tuổi. Sau khi thi đỗ, ông được bổ chức Tri phủ Điện Bàn (trấn Quảng Nam).

Sử cũ ghi lại, Nguyễn Đăng Huân nổi tiếng là vị quan thanh liêm, giản dị, thân với dân và nha lại, binh lính. Các sách biên soạn dưới triều Nguyễn đều chép, mỗi khi đi xuống dân, Nguyễn Đăng Huân thường đi bộ; giải quyết các công việc đều hết tình; khi xử đoán việc kiện, nhất là kiện cáo về ruộng đất, ông đều "mở, báo" cho hai bên hết tình, rồi chỉ nói một câu là ổn thỏa. Hai bên nguyên - bị đều phục. Chỉ một thời gian ngắn, ông được dân trong phủ yêu như cha mẹ. Khi ông về quê chịu tang cha, dân trong phủ biết tin đem đồ tiễn biếu, ông đều từ chối, không nhận. Làm quan ở phủ Điện Bàn được bốn năm, ông được điều về Kinh đô Huế, bổ chức Thự Lang trung bộ Lễ (tương đương với Quyền Vụ trưởng của bộ Lễ - Bộ trông coi về các vấn đề văn hóa, ngoại giao). Khi Minh Mệnh xa giá vào Nam (đầu năm Đinh Dậu - 1837), Nguyễn Đăng Huân được vời theo hộ giá. Dân trong phủ Điện Bàn nghe tin, đón đường thăm hỏi, nhiều người biếu tiền và vàng, ông cũng không nhận.

Sau đó ít lâu, vào tháng Mười cùng Đinh Dậu (tháng 11 năm 1837), ông mất tại nhiệm sở khi mới 34 tuổi, trong túi không có một đồng xu, trên người chỉ có một chiếc áo mùa đông mới được ban dùng để khâm liệm. Bấy giờ, các quan thanh tra ở Ngự sử đài là Nguyễn Tự, Lê Văn Thực đem sự trạng của Nguyễn Đăng Huân tâu lên. Lời tâu có đoạn: "Quan lại trị dân quý ở thanh  bạch, quan lại thanh liêm ở triều đình có nhiều, nhưng tìm được người đặc biệt thì trước có Nguyễn Hữu Hoàng - Tri phủ Anh Sơn(1), nay có Nguyễn Đăng Huân, phẩm hạnh tiết tháo không những dân hạt sở tại, mà cả giới sĩ phu không ai là không biết, so với người xưa, tưởng chẳng kém gì, xin lượng gia ơn điển, khiến cho người liêm được cảm khích, phấn khởi".

Sớ dâng lên, Vua Minh Mệnh tỏ lòng thương xót, hỏi thêm sự trạng của Nguyễn Đăng Huân. Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực đem những điều được nghe biết tâu bày. Vua dụ: "Tiếc rằng triều đình đã mất người hiền lương ấy, Đăng Huân còn sống mà không được ai đề cử để cất nhắc"; bèn truy tặng Nguyễn Đăng Huân chức Lang trung bộ Lễ (thực thụ), ban cho vợ con 100 quan tiền, cho mẹ già 100 quan và sức cho quan huyện Thạch Thất thường xuyên đến thăm hỏi. Dân phủ Điện Bàn vì quý mến ông, nghe tin ông mất tỏ lòng thương tiếc, thờ phụng ông ở Văn từ của phủ.

Nhân sự kiện này, Vua Minh Mệnh dụ các quan: "Liêm là đầu của sáu kế(2). Từ xưa, lấy khen thưởng, khuyến khích quan lại liêm chính làm đầu. Trẫm chỉnh đốn quan cai trị, cần để ý đến việc dạy làm điều trung hiếu. Từ trước đến nay, xét thấy người nào có thực trạng thanh liêm đều thưởng rất hậu. Lại nghĩ, có người lúc sống thanh liêm mà không có người tâu - nêu, mãi đến sau khi chết mới được tâu lên, như Tri phủ Nguyễn Hữu Hoàng, Lang Trung Nguyễn Đăng Huân, thực là đáng tiếc. Vả lại, nếu đợi ngôn quan tâu lên rồi mới khen thưởng thì sợ rằng không khỏi được một người mà bỏ sót mười người. Như vậy, phép khuyến liêm vẫn còn chưa đầy đủ. Nay phải châm chước ấn định điều lệ cho rõ ràng, ban bố trong ngoài cùng biết; rồi chuẩn định cho các chức quan ở bộ, viện cùng bàn kỹ tâu lên".

Các quan trong triều theo lệnh, cùng đưa ra lời bàn rằng, liêm là không lấy của người hay làm cho người mất tý gì; phàm có chức quan mà lấy điều đó giữ mình, cố nhiên nên nêu thưởng. Tuy nhiên, phép khen thưởng nếu cứ phải theo văn pháp thì e rằng, mọi người đều sợ người được nêu thưởng về sau không được trọn vẹn, nên ai chịu đem thân bảo đảm tâu lên. Nếu cứ cho tiến cử rộng rãi thì không tránh khỏi có người dùng thủ đoạn, hoặc bè đảng, vin dựa nhau để đưa nhau lên. Cả hai cách ấy đều không phải là ý lập pháp.

Từ quan điểm trên, các quan đưa ra các giải pháp:

- Phàm các quan văn võ, các nha lại ở trong Kinh đô, các tỉnh ngoài, người nào thật sự thanh liêm, tiết nghĩa, nếu là quan thì cho đồng sự, nếu là nha lại thì do viên trưởng quan được phép tâu lên. Nha (cơ quan) nào hoặc có sự ghen ghét, không đề tâu minh bạch (người liêm khiết), mà trưởng quan của nha khác biết đích thực sự trạng cũng được phép tâu riêng, để ngăn ngừa sự bưng bít.

- Ở tỉnh ngoài, các trưởng quan, đốc, phủ, bố án(3) được cử lẫn với nhau; các viên phủ, châu, huyện thuộc tỉnh đó thì do đốc, phủ, bố, án tâu lên; lãnh binh và quản vệ, quản cơ(4) thì do đốc, phủ, đề đốc(5) bảo cử.

- Người nào a dua, thiên tư (trong việc tâu nêu người liêm khiết) thì người cử và người được cử cần phân biệt để trị tội. Người được tâu - nêu sau khi được khen thưởng, cất nhắc lại thay đổi tiết tháo (tức không còn liêm khiết) phải trị tội nặng hơn; người đề cử được miễn truy cứu trách nhiệm.

Các quan cùng thống nhất rằng, làm được như thế, thì những người vì nước gây dựng nhân tài khỏi phải mang lòng sợ sệt, rụt rè; người bị ngừng trệ được tự hiện ra, phong hóa, liêm khiết có thể nổi bật ở đời.

Vua Minh Mệnh đã y lời bàn của các quan.

Lời bàn:

Xây dựng được đội ngũ quan lại (thời phong kiến) hay quan chức, công chức (từ xã hội tư bản chủ nghĩa trở đi) vừa tận tụy, tài năng, vừa thanh liêm, để bảo đảm cho bộ máy vận hành trơn tru là một trong những mục tiêu tối thượng của bất kỳ thể chế nhà nước nào. Quan lại, công chức thanh liêm là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển, ổn định của xã hội, là cơ sở rất quan trọng để tạo được lòng tin cho nhân dân với nhà nước.

Ở nước ta thời phong kiến, các vương triều đã rất chú trọng đến việc xây dựng sự thanh liêm cho đội ngũ quan lại các cấp, như cố gắng bảo đảm chế độ lương bổng cho họ trong điều kiện nguồn thu ngân sách rất hạn chế, nêu gương khen thưởng các vị quan thanh liêm, xử phạt thích đáng các quan lại tham nhũng.

Tuy nhiên, do kinh tế kém phát triển, nguồn thu ngân sách rất hạn hẹp, nên lương bổng của nhà nước cấp cho các tầng lớp quan lại rất hạn chế, thường không đủ chi tiêu, trong khi nhu cầu cuộc sống cùng sự ham muốn rất lớn. Vì vậy, bên cạnh đa số những vị quan thấm nhuần lý tưởng của kẻ sĩ "Thực vô cầu bão, cư vô cầu an" (ăn không cần no, ở không cần sang đẹp), không tránh khỏi một bộ phận quan lại quên mất lý tưởng cao đẹp đó, lợi dụng chức quyền cùng những kẽ hở của pháp luật, sự lỏng lẻo trong quản lý của nhà nước để trục lợi, tham nhũng bằng các hình thức. Hành vi tham nhũng của họ đã tác động xấu đến nội tình của quan trường, đến lòng tin của nhân dân với chính quyền nhà nước.

Trong bối cảnh trên, các vị quan lại thanh liêm - thời nào cũng có, ví như như Nguyễn Đăng Huân, Nguyễn Hữu Hoàng đầu thời Nguyễn thật sự là những gương sáng mà triều đình phong kiến muốn nhân lên để định rõ sự đục - trong của quan trường, sao cho "mạch trong" của các vị quan thanh liêm trở thành chủ đạo, chảy dài, liên tục, át hẳn "dòng đục" của các quan đã xa rời lý tưởng của kẻ sĩ. Trong trường hợp đang bàn, Vua Minh Mệnh chủ trương có hẳn một "thể chế" pháp luật để nêu - thưởng những vị quan thanh liêm. Tuy nhiên, các quan trong triều đã thận trọng xem xét, thấy rõ những điều bất thuận của việc ban hành một văn bản pháp luật như vậy, cụ thể là thấy được khả năng rất dễ bị lợi dụng để trục lợi từ văn bản pháp luật, từ chế độ chính sách.

Sự thanh liêm của Nguyễn Đăng Huân (và bao vị quan lại khác ở các thời) thật sự là gương sáng cần được phát hiện để nêu thưởng kịp thời, thỏa đáng để "cho người liêm được cảm khích, phấn khởi" và cần được nhân rộng, để khuyến khích trăm quan; song việc ban hành một văn bản pháp luật thì cần sự thận trọng, không thể tùy hứng để tránh những phiền phức sau khi văn bản được ban hành. Đó là bài học rút ra từ câu chuyện nêu gương thanh liêm của Nguyễn Đăng Huân dưới thời Minh Mệnh.        

Chuyện xảy ra đã tròn 180 năm, nhưng không hề cũ với xã hội ta ngày nay./.

------------------------

(1)- Nguyễn Hữu Hoàng: Chưa rõ thân thế, sự nghiệp, Đại Nam thực lục chỉ cho biết ông làm Tri phủ Anh Sơn (trấn Nghệ An), rất liêm khiết.

(2)-Sáu kế xem xét quan lại: Liêm thiện, liêm năng, liêm kính, liêm chính, liêm pháp, liêm biện.

(3)-Đốc, phủ, bố, án: Tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát - các viên quan đứng đầu cấp tỉnh thời Nguyễn.

(4)-Lãnh binh: Võ quan, phụ trách quân sự một tỉnh nhỏ; quản vệ, quản cơ là các võ quan phị trách các vê, cơ - những đơn vị quân đội ở tỉnh.

(5)-Đề đốc, võ quan phụ trách quân sự một tỉnh lớn.

Thạch Thiết Hà