“Chẳng điều lệ, điển chương nào có được”

Tháng 1 năm Nhâm Thìn, đời Vua Minh Mệnh (khoảng tháng 12 năm 1832), các quan trong triều là Thượng thư bộ Binh Lê Văn Đức, Tả Tham tri bộ Hộ Trương Đăng Quế tâu với vua rằng: "Từ trước đến nay, bộ Lại tuyển bổ thông phán, kinh lịch vào chỗ thiếu, nhưng chỉ lấy những người kêu van chạy vạy, chứ không hề tư báo cho đường quan các bộ biết, đối với người trong bộ thì bổ cho chỗ tốt, còn người ở bộ khác thì bổ đi nơi xa, e có sự mở đường cho hạng người cầu cạnh!".

Vua Minh Mệnh sai bộ Lại bàn rõ lời tâu trên để định liệu sau. Bấy giờ, năm bộ khác trong triều (bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình và bộ Công) cùng đứng tên với bộ Lại tâu xin. Vua bèn sai đinh thần bàn định cho chu đáo và thỏa đáng. Các quan trong sáu bộ hội bàn và cho rằng, thông phán, kinh lịch tuy là quan ngoài, trật nhỏ, nhưng họ giúp vào việc thừa hành làm các sự vụ văn án, tiền lương ở trong hạt, năng lực của họ có quan hệ rất lớn đến công việc một tỉnh. Vậy nên, châm chước lập thành điều lệ, dùng làm quy tắc nhất định cho các bộ tuân theo khi tuyển bổ.

Từ lời tâu của hai vị quan Lê Văn Đức và Trương Đăng Quế, các quan trong triều đưa ra một "lộ trình" cùng các nguyên tắc tuyển bổ các thông phán, kinh lịch như sau:

- Các nha môn ở Kinh đô và các địa phương phải xem xét trong hàng quan thất, bát phẩm thuộc ty mình, người nào có thâm niên làm việc và làm được việc, thì kê thành danh sách để tâu lên bộ Lại (bộ đảm trách việc tuyển bổ, thăng giáng, luân chuyển quan lại) xem xét.

- Khi tuyển bổ vào các vị trí đang khuyết người làm việc, phải xem xét nơi nhiều việc hay ít việc mà bố trí; đồng thời phải "theo thứ tự người trước, người sau" (tức phải bố trí trước những người có "thâm niên làm việc và làm được việc" và phải đề rõ tên người để bổ).

- Nếu phải bổ vào chỗ khuyết từ 2, 3 nơi trở lên, thì người được bổ mà thuộc tỉnh ngoài, sẽ liệu chỗ đề nghị bổ; còn nhân viên ở Kinh đổ thì truyền cho nhóm họp tại chỗ để rút thăm, rồi sau đề bổ sung vào nơi thiếu.

- Tuy nhiên, các điều trên chỉ là những nguyên tắc cốt yếu, còn việc xét duyệt, tuyển bổ cụ thể như thế nào, hợp lý hay không hợp lý, hiệu quả hay không hiệu quả, lại phụ thuộc vào các quan trên và những người có trách nhiệm cân nhắc. Nếu giữ được công tâm thì kẻ bất tài không thể lộn sòng vào đám thổi sáo(1), mà phép nước có thể thi hành được lâu, tưởng chẳng phải điều lệ hoặc điển chương nào có thể bao gồm được hết.

Vua Minh Mệnh cho là phải và lệnh cho thi hành.

Lời bàn

Ai cũng biết, bất kỳ cơ quan nào, ngoài người đứng đầu (thời phong kiến gọi trưởng quan) và các cấp phó phụ tá, còn có những người dưới quyền giúp việc. Một cơ quan muốn mạnh và phát triển, đòi hỏi năng lực, sự tận tụy với công việc, không chỉ của người đứng đầu mà còn của những người dưới quyền (cả người có chức trách cũng như nhân viên bình thường).  Người đứng đầu cơ quan có năng lực đến mấy, nếu không có được những viên chức dưới quyền có chuyên môn vững vàng, làm việc công tâm, công việc của cơ quan cũng không thể trôi chảy, cơ quan không thể phát triển được. Một số cơ quan có chuyên môn đặc thù thì năng lực và tinh thần trách nhiệm của những người dưới quyền càng quan trọng. Vì thế, việc tuyển bổ họ và bố trí công việc cho họ càng phải thận trọng, kỹ càng.

Trở lại với câu chuyện được bàn, thông phán và kinh lịch là hai chức quan trong Ty Án sát - một trong hai cơ quan cấp tỉnh, trông coi việc hình án, tư pháp thời Nguyễn. Tuy có phẩm trật thấp (thường chỉ là bát phẩm hoặc cửu phẩm), song thông phán và kinh lịch có một vị trí rất quan trọng, vì họ chịu trách nhiệm và chịu sự điều hành trực tiếp của Án sát - một trong ba viên quan đứng đầu mỗi tỉnh thời Nguyễn. Công việc của họ là giúp Án sát lập các văn bản, giấy tờ về các công việc tư pháp nói chung, các vụ án đã, đang và sẽ đưa ra xử lý nói riêng; liên quan đến quyền lợi của những người trong cuộc; nếu là việc hình án thì liên quan đến quyền lợi, danh dự của không chỉ từng người dân (hoặc quan) có "dính dáng", mà còn đến thân nhân, gia đình của họ. Công việc của họ còn liên quan đến hoạt động của các cơ quan khác ở cấp tỉnh, các cấp bên dưới và cả triều đình Trung ương. Nếu họ có năng lực, làm việc "ngăn nắp", gọn gàng, minh bạch, công việc của các cơ quan sẽ hanh thông, những người dân và cả các vị quan có liên quan đều được bảo đảm quyền lợi. Ngược lại, nếu họ kém năng lực, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, không chỉ công việc của Ty Án sát bị vướng mắc, mà có khi người dân hay viên quan nào có liên quan đến hồ sơ các vụ việc do họ xử lý để trình lên viên Án sát giải quyết bị chậm trễ, thiệt thòi, thậm chí không tránh khỏi oan, sai. Chính vì thế, việc tuyển bổ họ phải rất thận trọng, kỹ càng.

Tuy nhiên, vào thời Minh Mệnh, việc tuyển bổ các chức danh thông phán, kinh lịch có nhiều bất cập, đã được hai vị quan Lê Văn Đức và Trương Đăng Quế chỉ ra trong lời tâu của họ lên Vua Minh Mệnh. Đó là:

- Các địa phương thường xuyên bị khuyết các chức danh mà không được bổ sung kịp thời;

- Bộ Lại là cơ quan chịu trách nhiệm chính việc tuyển bổ các chức danh thông phán, kinh lịch bị khuyết. Đây rõ ràng là điều bất cập, vì một bộ ở triều đình không thể bao quát hết tình hình nhân sự của địa phương, do vậy ắt đẻ ra tình trạng quan liêu, thiếu sâu sát, khách quan;

- Nghiêm trọng hơn, là việc tuyển bổ người của bộ Lại không theo nguyên tắc "không tư báo cho quan các bộ biết", do vậy, tùy tiện "đối với người trong bộ thì bổ cho chỗ tốt, người ở bộ khác thì bổ đi nơi xa", từ đó nảy sinh tiêu cực (Bộ "chỉ lấy những người kêu van, chạy vạy", "mở đường cho hạng người cầu cạnh").

Lời bàn của các quan trong sáu bộ triều đình đã đưa ra được giải pháp khắc phục. Đó là:

- Giao quyền tuyển bổ các chức thông phán, kinh lịch cho các nha môn ở địa phương (Kinh đô Huế và các tỉnh), vì các nha môn đó biết rõ nhân viên trong thuộc ty mình.

- Ưu tiên tuyển bổ những người có thâm niên làm việc và làm được việc, lập danh sách để trình lên bộ Lại xem xét; phải căn cứ vào đặc thù, tính chất công việc của nha môn để bố trí nhân sự; đồng thời phải đề rõ tên người để bổ.

- Điều quan trọng nhất, phải có sự công tâm, minh bạch, thận trọng của các quan trên và những người có trách nhiệm tuyển bổ và bố trí người. Không có sự công tâm, minh bạch, thận trọng này, thì dễ nảy sinh móc ngoặc, chạy chọt, đưa người thân quen nhưng bất tài vào các vị trí công việc đang khuyết, ảnh hưởng đến hoạt động của nha môn.

Lời bàn của các quan sáu bộ hướng tới một lộ trình hợp lý (về trình tự, về phân cấp hay phân quyền tuyển bổ, về tiêu chuẩn của người được tuyển bổ …) và sự minh bạch trong tuyển bổ các chức thông phán, kinh lịch của Ty Án sát nói riêng và suy rộng ra là các chức quan khác cùng các nhân viên trong toàn bộ guồng máy nhà nước thời Minh Mệnh nói chung, để các nha môn có được đội ngũ quan - lại có năng lực, đảm đương được các công việc theo phận sự của mình. Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là những nguyên tắc trên văn bản, giấy tờ, còn để nguyên tắc đó có hiệu lực thực tế thì cần phải có công tâm của các quan chịu trách nhiệm tuyển bổ; vì sự công tâm "chẳng có điều lệ hoặc điển chương nào bao gồm hết được".

Lời bàn của các quan sáu bộ rất hợp lý, chính vì vậy, Vua Minh Mệnh "cho là phải và lệnh cho thi hành".

Câu chuyện trên đây hẳn vẫn còn ý nghĩa thời sự đối với việc tuyển bổ công chức, viên chức của ta ngày nay. Thiết nghĩ, nếu có một quy trình, lộ trình bổ nhiệm đúng, minh bạch, chắc chắn chúng ta không có những hiện tượng "bổ nhiệm thần tốc", bổ nhiệm con cháu, người thân, dẫn đến "thăng tiến thần tốc", gây ra bao điều thị phi trong những năm gần đây./.

------------------

(1) Ý dẫn từ điển tích "Bọn thổi sáo nước Tề". Vua Tuyên Vương nước Tề thời Đông Chu liệt quốc ở Trung Quốc (trị vì từ năm 320 đến năm 301 trước Công nguyên) thích nghe sáo và luôn muốn nghe, thường bắt ba trăm người cùng thổi một loạt. Trong số ba trăm người ấy, có Đông Quách tiên sinh không biết thổi sáo, nhưng cũng dự vào đấy để kiếm lương ăn. Đến khi vua Tuyên Vương mất, con là Mẫn Vương nối ngôi cũng thích nghe sáo, nhưng chỉ muốn nghe riêng từng người một thổi. Đông Quách tiên sinh phải tìm đường rời khỏi đội quân thổi sáo đó để khỏi mang vạ. 

Thạch Thiết Hà