Để đất không có nguồn lợi bỏ sót, dân không có sức dư thừa

Vào khoảng đầu năm Tân Mão - 1831, Vua Minh Mệnh cho rằng, đất ở các hạt (từ tháng Mười cùng năm gọi là các tỉnh) phần nhiều bỏ không; nguyên do của tình trạng đó là do "khi xét thành tích các phủ huyện chưa có việc ghi công về sự khuyên dân trồng trọt"; vì vậy, Vua ra sắc chỉ cho ba bộ (Lại, Hộ, Công) bàn xét việc này để tâu lên.

Sau đó, các quan của ba bộ trên họp bàn và thống nhất dâng lên Vua bản khuyến nghị "Định thể lệ xét công các phủ huyện khuyên dân trồng trọt" vào tháng Năm cùng năm (khoảng tháng 6 năm 1831).

Chắc chắn trước khi đưa ra bản khuyến nghị này, các quan trong ba bộ đã có các cuộc khảo sát thực tế hoặc xem xét kỹ các báo cáo của của nhiều địa phương nên trong văn bản khuyến nghị có những tình tiết rất cụ thể và sâu sát.   

Các quan trong ba bộ cho rằng, trong các loại thực vật, chỉ có cây mít, quả có thể ăn, gỗ có thể làm rường cột, rất là thiết dùng. Vậy xin từ hạt Quảng Bình trở vào Nam, từ hạt Nghệ An trở ra Bắc, bên đường cái quan và ven sông đều cho trồng thứ cây ấy; còn tất cả những chỗ hai bên đường lớn, đường nhỏ trong cả nước cùng những chỗ bên sông, bên ngòi, bờ ao, chân rừng, gò đống, hiện còn bỏ hoang thì phủ huyện sở tại phải sức cho toàn dân nên tùy thổ nghi, hoặc có thể cấy được lúa, hoa màu hoặc trồng dâu, gai, hoặc có thể trồng được mít; không cứ là quân hay dân, thực hộ hay khách hộ(1), cho phép ai khai khẩn trước thì người ấy được trồng trọt và hưởng sản phẩm. Những ruộng đất đã được khai khẩn từ trước, người chủ ruộng phải báo lên để lập thành danh sách gửi lên bộ; đủ ba năm sẽ căn chiếu theo diện tích đất đã trồng trọt nhiều - ít, sản phẩm thu được, để xét công. Nếu đất bỏ hoang còn nhiều, thì xem xét nghị xử, để phân biệt người chăm, kẻ lười. Số ruộng đất canh trưng đó, sau sáu năm, khi đã xét thành tích rồi, đều cho theo vào hạng ruộng đất tư để đánh thuế.

Vua Minh Mệnh đọc kỹ bản khuyến nghị của các quan ba bộ và tán đồng các lời đề nghị trong văn bản với lời dụ các quan Nội các rằng: "Việc mở mang ruộng đất, khuyến khích làm ruộng, trồng dâu, thực có ích lợi lớn cho quốc kế dân sinh; cho nên các vương giả xưa không ai là không chăm lo khuyến khích giúp đỡ dân, để cho đất không có nguồn lợi bỏ sót, dân không có sức người để thừa, rồi sau vương đạo mới được thành tựu. Nước nhà ta, bờ cõi rất rộng, địa lợi rất tốt, nhưng những đất cày cấy được còn chưa được mở mang hết, như phủ Hà Hoa thuộc Nghệ An(2) đất bỏ hoang trông bát ngát không biết là mấy nghìn, mấy trăm mẫu, thì những chỗ khác như thế chắc cũng không phải là ít. Phải nên chú ý hơn nữa vào việc khai khẩn trồng trọt, mong ruộng đất ngày thêm màu mỡ. Vậy hạ lệnh cho bộ Hộ truyền chỉ cho các đại thần đứng đầu các địa phương, chuyển sức cho các viên phủ, huyện xét xem ở trong hạt những ruộng đất còn bỏ hoang, sức bắt phải khai khẩn để trồng trọt; những đợt báo việc khai khẩn và xét việc thành tựu đều chiểu theo điều khoản trong lời nghị của bộ mà thi hành. Đó là điều cốt yếu để mở mang mối lợi, bồi bổ đời sống cho nhân dân, mọi người đều phải hết lòng làm việc, không được coi là giấy tờ suông; nhưng cũng không nên đốc thúc khẩn bách quá, đến nỗi làm hại cho dân. Phải tìm được phương pháp dạy bảo để cho người chăm thì được khuyến khích, kẻ lười thì biết răn chừa, hết thảy đều nô nức chăm chỉ, mà không sinh ra mối tệ khác, để cho ngoài đồng không có đất bỏ không, trong nước không có người lêu lổng, mới là không phụ chức phận của mình. Trong việc này, càng có thể biết được sự dụng tâm làm việc của các ngươi như thế nào". (Nguồn: Đại Nam thực lục, tập Ba, trang 174-175.)

    Lời bàn:

Lời bàn định cùng bản khuyến nghị của các quan ba bộ Lại, Hộ, Công cũng như lời Dụ của Vua Minh Mệnh liên quan đến một trong những vấn đề trọng yếu nhất của một đất nước lấy nông nghiệp làm cơ sở kinh tế chính. Ai cũng biết, trong cơ cấu nông nghiệp ở nước ta từ xa xưa cho đến những năm gần đây, trồng trọt luôn giữ vai trò chủ đạo, cả về hướng và vốn đầu tư, nhân công lao động và thời gian sản xuất. Trong trồng trọt, vấn đề cốt yếu nhất là khai khẩn đất đai, tổ chức sản xuất dựa trên việc bố trí các loại cây trồng, mùa vụ cho phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu và thời tiết, thổ nhưỡng, thủy văn ở từng địa phương và cả những tập tục, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư sống tại đó.

Lời bàn của các quan ba bộ cùng lời Dụ của Vua Minh Mệnh chỉ ra khâu cốt yếu của trồng trọt là là việc sử dụng ruộng đất, không để hoang hóa ruộng đất ở nhiều địa phương. Ruộng đất bị hoang hóa có nhiều nguyên nhân. Hoặc do những vùng đất có điều kiện môi sinh phức tạp mà cộng đồng dân cư không đủ tiềm lực (lao động, tài chính, cơ sở kỹ thuật) để tổ chức khai hoang; hoặc điều kiện môi sinh rất khó có thể "có chỗ đứng" cho các loại cây trồng. Cũng có thể đất đai đã được gieo trồng, nhưng không hiệu quả, dẫn đến người có đất buộc phải bỏ hoang.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính của việc khai thác, sử dụng đất đai không có hiệu quả, dẫn đến để hoang hóa là do con người, nhìn từ hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất, là người nông dân, quen sản xuất theo tư duy kinh nghiệm, nên không thể tìm được các loại cây trồng thích hợp với đồng đất để có năng suất cao. Khía cạnh thứ hai, là trách nhiệm của những người quản lý mà trong trường hợp đang bàn là các quan ở các địa phương; thiếu sâu sát với đời sống sản xuất của dân, giúp dân có hướng sản xuất hiệu quả, ổn định lâu dài.

Cha ông ta xưa đã đúc kết: "Tấc đất tấc vàng". Câu ngạn ngữ này bao hàm nhiều nghĩa. Tấc đất khi không bị bỏ hoang, mà được quay vòng trồng trọt (và cả chăn nuôi), tạo ra các sản phẩm và được tích tụ qua nhiều năm, nhiều đời sẽ trở thành tấc vàng. Tuy nhiên, "tấc vàng" mà cha ông ta đúc kết không chỉ là những sản phẩm từ sản xuất, mà còn là ý thức lao động, tác phong lao động, nhịp sống lao động của mỗi người và mỗi cộng đồng cư dân, để tạo ra các sản phẩm mới và nhiều sản phẩm hơn cho xã hội. Để có được "tấc vàng", người nông dân phải trăn trở tìm được các loại cây trồng mới và thường xuyên thay đổi được cơ cấu cây trồng phù hợp, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới để cây trồng có năng suất cao và cho các sản phẩm có giá trị tiêu thụ, để không lâm vào cảnh "được mùa rớt giá", chứ không phải trồng theo phong trào, không thể sản xuất theo tư duy kinh nghiệm.

"Tấc vàng" còn có hàm ý là cung cách làm việc của các cơ quan hành chính, nhất là của người đứng đầu cùng các cơ quan chuyên môn đối với việc điều hành sản xuất nông nghiệp, không chỉ là động viên nhân dân sản xuất, hướng dẫn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất mà điều cốt yếu và quan trọng hơn là phải xây dựng được quy hoạch phát triển sản xuất trước mắt và lâu dài, để nông dân yên tâm lao động, làm giàu trên mảnh đất quê hương mình.

Đáng tiếc là, trong hơn chục năm qua, nhiều địa phương thực hiện chủ trương "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa"  một cách nóng vội, nên nhiều cánh đồng "bờ xôi ruộng mật" - thành quả khai phá, cải tạo hàng nghìn năm của cha ông đã được chuyển đổi để xây dựng các khu đô thị thiếu quy hoạch, chạy theo thành tích địa phương và lợi ích của một số cơ quan, cá nhân. Hậu quả của việc đô thị hóa tràn lan đó là các khu đô thị không thể hình thành, hoặc hình thành nhưng là "khu đô thị ma" (có hàng loạt dãy nhà cao tầng, biệt thự hiện đại nhưng không có người đến ở vì quy hoạch không gắn với các yếu tố giao thông, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục). Không ít địa phương đã thu hồi hết đất sản xuất của nông dân, nhưng nhiều năm nay không thể triển khai được việc xây dựng, nên đồng ruộng trở thành những bãi cỏ hoang. Trong khi đó, bao gia đình nông dân không còn đất sản xuất, việc chuyển đổi sang nghề khác rất khó khăn, phải ly hương ra các thành phố mưu sinh; từ đó ảnh hưởng xấu đến gia đình, trật tự an toàn xã hội, giáo dục của nông thôn và cũng đem lại cho các thành phố nhiều hệ lụy như quá tải về giao thông, về quy hoạch phát triển.

Từ chuyện bàn của triều đình Minh Mệnh về tận dụng đất đai để sản xuất đến việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn hiện nay, có một dấu nối về việc sử dụng đất đai, liên quan đến tầm nhìn của người lao động và các cơ quan hành chính và chuyên môn, các nhà quản lý.

----------------

(1) Thực hộ: người có hộ khẩu chính thức tại một làng xã. khách hộ: người tạm trú tại địa phương đó.

(2) Phủ Hà Hoa: vào đầu thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX) gồm hai huyện Thạch Hà và Kỳ Anh thuộc trấn Nghệ An. Đến tháng Mười năm Minh Mệnh thứ 12 ( tháng 11 năm 1831) cùng với phủ Đức Thọ tách ra thành tỉnh Hà Tĩnh.  Vùng đất phủ Hà Hoa thời Nguyễn nay là thị xã Kỳ Anh và các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà.

Thạch Thiết Hà