Vì sự ổn định và ấm no của dân vùng biên giới

Tháng ba năm Bính Thân đời Vua Minh Mệnh (khoảng tháng 4 năm 1836), trong tập Thỉnh an gửi về triều đình vào đầu năm của Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ (quan đứng đầu hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên) có đoạn: "Dân hạt Quảng Yên(1) phần nhiều đóng thuyền đi khắp các tỉnh lân cận mua gạo, chuyển bán cho lái buôn nhà Thanh. Vậy xin ra lệnh cho quan tỉnh xét theo cái số cần mua mà cấp cho quan văn để phòng điều tra xét nghiệm".

Việc được giao xuống Bộ Hộ xét bàn. Các quan trong Bộ cho rằng: 6 châu, huyện trong tỉnh này (Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên, Hoa Phong, Vạn Ninh và Vân Đồn) phần nhiều là đất nước mặn ven biển, thóc gạo cần dùng thường do tỉnh bên cung cấp; trong đó, các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên và Hoa Phong(2) đều ở phía trong sông, có đi sang tỉnh bên mua gạo thì chỉ chở theo đường cảng. Duy hai châu Vạn Ninh, Vân Đồn ở hẻo lánh trên hải đảo, thuyền đi phải do đường biển. Một khi đã ra khơi, thì tùy ý muốn đi đông, đi tây, không ai còn biết đi đâu nữa. Quan địa phương thực không thể xét hỏi được. Do đấy, những kẻ tiểu dân tham lợi, chở lậu gạo, lén lút bán cho lái buôn nhà Thanh. Vậy xin: các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên và Hoa Phong cho cứ như cũ, nếu có chở lậu gạo ra biển thì đã có luật nghiêm cấm do quan địa phương kiểm soát rồi; còn hai châu Vạn Ninh, Vân Đồn, sổ đinh thường hành gồm có 605 suất, cứ theo cách tính thông thường từ xưa, một  người cày ruộng phải nuôi 5 người thì trai, gái, già, trẻ ngoài số 605 suất đinh đó phải đóng góp gấp lên đến 5 lần. Vậy tính chung là hơn 3.600 người, một tháng phải chi trên 3.600 hộc(3) thóc. Xin cứ lấy con số ấy mà tính, hằng năm lấy tháng giêng và tháng bảy làm kỳ hạn, lý dịch các xã, thôn, trước trình với viên tri châu sở tại cấp cho quan văn rồi đệ lên đến Hải Dương xét thực, thu giữ, phát thóc hoặc gạo kho bán cho, đổi cấp quan văn, kê rõ số thuyền và số gạo để đề phòng giả mạo. Nếu gặp năm nhuận thì lui thêm cho một tháng. Kỳ tháng giêng lui đến tháng hai, kỳ tháng bảy lui đến cuối tháng tám, ai để quá hạn thì bị đình chỉ không bán. Quan văn do tỉnh Hải Dương cấp, đến ngày về, sẽ do viên tri châu chuyển nộp lên Quảng Yên để lưu chiểu. Quảng Yên không được cấp quan văn để cho đi mua ở hạt khác nữa. Như thế thì nhân dân bờ biển có gạo ăn, mà người nhà Thanh không chiếm được lợi nữa.

Lại nghĩ, dân hai châu Vạn Ninh, Vân Đồn hằng năm cứ phải lĩnh mua gạo ở tận kho tỉnh Hải Dương, nếu việc này thi hành lâu dài thì có điều chưa tiện. Vậy chuẩn cho: Hễ đến kỳ đong gạo thì tỉnh Hải Dương phái người đem đến chợ ở dân gian mà bán cho đủ số".

Vua Minh Mệnh đã y lời bàn của các quan Bộ Hộ.

(theo Đại Nam thực lục, tập Bốn, trang 905)

Lời bàn:

Lời tâu của Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ và lời bàn của Bộ Hộ cho thấy rõ bức tranh kinh tế và đời sống của cư dân tỉnh Quảng Yên thời Nguyễn. Đây là tỉnh có điều kiện tự nhiên rất bất lợi cho làm nông nghiệp - cơ sở kinh tế chính thời phong kiến. Trừ huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên) có những dải ruộng rộng rãi như vùng nội đồng (song phải chịu tác động mạnh của thủy triều ven biển), còn ở các huyện, châu như Hoành Bồ (nay là các huyện Hoành Bồ, Ba Chẽ và thành phố Hạ Long), Tiên Yên (nay là các huyện Tiên Yên, Bình Liêu và thành phố Cẩm Phả) là vùng miền núi xen lẫn ven biển, đảo, ruộng cấy lúa rất ít; huyện Hoa Phong (nay là huyện đảo Cô Tô), châu Vạn Ninh (nay là phần lớn thành phố Móng Cái, các huyện Hải Hà, Đầm Hà) và châu Vân Đồn (nay là phần lớn huyện Vân Đồn) là các vùng ven biển, đảo, ruộng cấy lúa vốn đã ít, đất lại chịu tác động của nước mặn. Nhìn chung, người dân tỉnh Quảng Yên không thể sống bằng nông nghiệp, an ninh lương thực không bảo đảm, cho nên, cư dân phải sang Hải Dương - tỉnh kề cận để đong thóc, gạo về chi dùng; và để có tiền đong thóc gạo, cư dân phải mưu sinh bằng nhiều nghề khác nhau, trong đó, buôn bán là phổ biến nhất.

Ngoài việc đem lại nhiều điều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên của tỉnh còn có những yếu tố tiềm ẩn cho những hoạt động gây mất ổn định về kinh tế - xã hội. Đó là, phần lớn các huyện châu đều tiếp giáp với các châu huyện của Trung Quốc mà điều kiện tự nhiên, đời sống cũng tương tự như các huyện của tỉnh Quảng Yên. Thêm nữa, các huyện, châu đều tiếp giáp với biển hoặc có đường song thông ra biển, nên rất tiện lợi cho cư dân buôn bán bằng đường biển đi các địa phương; cũng như cho người Trung Quốc sang Quảng Yên buôn bán. Rất nhiều người đã lấy gạo là mặt hàng chính để buôn bán và đối tác trao đổi là các lái buôn người Thanh. Trong việc buôn bán đó, đã có không ít "kẻ tiểu dân tham lợi, chở lậu gạo, lén lút bán cho lái buôn nhà Thanh" ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự, kiểm soát các mặt hàng, đến giá lúa gạo trong nước và cả việc thu thuế, vì "một khi đã ra khơi, [những người buôn] tùy ý đi đông, đi tây, không ai còn biết đi đâu nữa; quan địa phương thực không thể xét hỏi được".  

Để ngăn chặn tình trạng trên, Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ, đã đề nghị căn cứ vào hạn mức sử dụng thóc gạo của dân cư tỉnh Quảng Yên mà cấp cho giấy thông hành - vận chuyển thóc gạo từ các tỉnh về địa phương này. Trong khi đó, các quan Bộ Hộ đưa ra các giải pháp cụ thể hơn. Đó là, cho phép các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên và Hoa Phong theo lệ cũ, được sang các tỉnh lân cận mua thóc gạo về chi dùng và kiểm soát chặt ở các cửa biển để ngăn chặn việc chở lậu gạo ra biển để bán cho lái buôn người Thanh; còn hai châu Vạn Ninh, Vân Đồn, căn cứ sổ đinh, số dân để tính số thóc gạo (tương đối) hàng tháng để lý dịch các xã, thôn vào tháng giêng và tháng bảy trình lên châu, huyện làm công văn, đệ lên quan tỉnh Hải Dương xét, lấy thóc gạo kho bán theo thực số (gắn với số thuyền đi chở) để đề phòng giả mạo. Lời bàn của Bộ cũng quy định rõ thể thức cấp, lưu giữ giấy tờ liên quan đến việc bán và mua thóc giữa hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên.

Không chỉ đề xuất kiểm soát chặt chẽ việc bán thóc, các quan Bộ Hộ còn đề nghị Nhà nước mang gạo đến tận các chợ ở dân gian của hai châu Vạn Ninh và Vân Đồn, để bán cho dân theo hạn mức, cho đỡ phần nhọc nhằn, mất nhiều công sức của dân, vì hai địa phương này ở quá xa lỵ sở tỉnh Hải Dương, giao thông đi lại rất khó khăn.

Những thông tin tư liệu trên đây cho thấy, Nguyễn Công Trứ cùng các quan Bộ Hộ dưới thời Vua Minh Mệnh rất sâu sát với đời sống của nhân dân, thấy rõ được những bất cập tự các yếu tố của điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Yên, dẫn đến hệ quả, tác hại lớn là tình trạng buôn lậu, "chảy máu" thóc gạo - loại lương thực chủ đạo của cư dân nông nghiệp, ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân, đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Chuyện xảy ra cách ngày nay đã trên 180 năm, song vẫn mang tính thời sự nóng hổi: Đó là kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng chiến lược, ngăn chặn tận gốc nạn buôn lậu ở vùng biên giới có biển đảo, khi mà ngày nay, điều kiện để cho các hoạt động buôn lậu thuận lợi hơn và hàng hóa để buôn lậu đa dạng hơn rất nhiều so với thời phong kiến, không chỉ là các sản phẩm sản xuất mà còn có cả nhiều sản phẩm là nguồn tài nguyên trong nước bị khai thác trái phép để bán cho thương nhân nước ngoài./.

--------------------------

(1)- Hạt Quảng Yên ở đây là tỉnh Quảng Yên, được lập năm Minh Mệnh thứ 12 (Tân Mão, 1831) trên cơ sở trấn An Quảng thời Lê, gần tương đương với địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày nay (trừ huyện Đông Triều khi đó thuộc tỉnh Hải Dương). Theo quy chế thời Nguyễn, Tổng đốc Hải Dương kiêm quản tỉnh Quảng Yên nên gọi là Tổng đốc Định - Yên.

(2)- Công văn cấp để làm bằng chứng.

(3)- Mỗi hộc bằng 76 kg.

Thạch Thiết Hà