Từ lời dụ đầu năm Mậu Tuất - 1838 của Vua Minh Mệnh

06/02/2018 | 09:16 AM

Xem với cỡ chữ

Việc đắp và tu bổ đê tiến hành từ đầu năm âm lịch có từ thời Trần và được duy trì qua các vương triều Lê- Mạc, Lê - Trịnh và Nguyễn, trở thành một tục lệ. Trong công việc đó, nhà nước cấp tiền, gạo, còn các địa phương huy động nhân công làm, các quan lại và các chức làng xã đứng ra tổ chức.

Tháng Giêng năm Mậu Tuất (khoảng đầu tháng 2 năm 1838), các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, tiến hành đắp và tu bổ đê để đối phó với mùa mưa lũ sắp đến theo lệ thường. Tuy nhiên, rất nhiều địa phương trong 3 tỉnh trên đều thuê nhân công đào đắp, không tổ chức cho dân công trực tiếp làm. Bộ Công đem việc đó tâu về triều.

Vua Minh Mệnh nhận được lời tâu, bèn dụ các quan trong Bộ rằng:

“Ghét khó nhọc, thích nhàn rỗi, đó là thường tính của người ta, mà làm quen cần khổ, mới là dân đời thịnh trị. Vả lại, việc ngăn giữ nước sông, Trẫm sở dĩ ngày đêm lo tính, không tiếc phí tổn, chỉ lấy chống lụt, giữ việc làm ruộng làm kế nuôi dân ta, đến khi khởi công sửa đắp, đổi bỏ tệ cũ thuê khoán, chuyên thuê dân trong hạt(1), cốt để cho bờ sông giữ vững, đã có thể cho dân được ở yên mà tiền gạo chi ra lại có thể giúp lương ăn cho dân. Trẫm để tâm đến lương thực cho dân như thế là nhất. Không ngờ trong dân thường có kẻ quen thói lười biếng, lại cùng hùa nhau thuê người khác làm, hoặc có thể do bọn hào dịch gian dối, sâu mọt, đặt điều dọa nạt mà dân chúng không biết, không dám thò đầu ra làm việc, cùng nhau đóng góp thuê tiền, để cho chúng kiếm lợi. Ở đó tình trạng như thế không những tốn không của kho nhà nước, mà dân ta lại phải khổ lụy. Trẫm nghe tin đó, rất lấy làm bất bình”.

Rồi Vua lập tức lệnh cho Tổng đốc Hải - An (quan đứng đầu hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên) Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Định - Yên (quan đứng đầu hai tỉnh Nam Định - Hưng Yên) Trịnh Quang Khanh, Tuần phủ tỉnh Hưng Yên Hà Thúc Lương đem việc ấy hiểu thị mà răn bảo, còn dân có thuê riêng thì trị tội nặng. Đến khi làm xong, các nhân viên đi làm việc đều chia hạng để khen thưởng. Lúc đó, có dân huyện Hưng Nhân xin không lĩnh số gạo thuê làm, đặc cách gia ân thưởng chung cho 800 quan tiền (nguyên năm trước sửa đắp đê tư 70 trượng đã đưa thưởng 30 quan, rồi sau đê ấy bị bỏ, cho nên dân ấy tự nguyện ra sức sửa đắp đê mới, 70 trượng, lấy tiền ấy bù vào đê tiền kia, không dám lĩnh tiền thuê nữa).

(Nguồn: sách Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tập 5, 2004, trang 264).

          Lời bàn:

Lời dụ của Vua Minh Mệnh liên quan đến một loạt những vấn đề xã hội thời Nguyễn.

Trước hết, đắp đê và tu bổ đê - một trong những việc trọng yếu nhất của một đất nước lấy nông nghiệp làm cơ sở kinh tế chính, trong điều kiện nhiệt đới gió mùa với nhiều yếu tố bất ngờ luôn xảy ra như Việt Nam. Đê ngăn nước lụt, bảo vệ làng xóm, đồng ruộng, bảo đảm an toàn cho người, gia súc, tài sản, mùa màng ở vùng trung du và châu thổ. Vì vậy giữ đê là việc hệ trọng hàng đầu, được dân ta thực hiện từ rất xa xưa; nhà nước các thời đều luôn quan tâm, cùng dân tu bổ đê trước mỗi mùa mưa lũ đến, thậm chí, trong trường hợp đang bàn, công việc được thực hiện ngay sau Tết Nguyên đán ít ngày, không coi “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” như nhiều người thường quan niệm.

Việc đắp và tu bổ đê tiến hành từ đầu năm âm lịch có từ thời Trần và được duy trì qua các vương triều Lê- Mạc, Lê - Trịnh và Nguyễn, trở thành một tục lệ. Trong công việc đó, nhà nước cấp tiền, gạo, còn các địa phương huy động nhân công làm, các quan lại và các chức làng xã đứng ra tổ chức. Việc này có nhiều mối lợi: Dân có công ăn việc làm vào thời điểm nông nhàn, tránh được tình trạng “nhàn cư vi bất thiện”, đê được củng cố trước mùa mưa lũ, quan lại và chức dịch “có thành tích” để báo cáo.

Vậy mà, vào thời Vua Minh Mệnh (1820 - 1841), ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, việc đắp và tu bổ đê không được thực hiện theo cách tổ chức cho dân làm, mà lại tiến hành thuê mướn, được Vua Minh Mệnh chỉ ra hai nguyên nhân. Một là, do một bộ phận do dân tình “ghét khó nhọc, thích nhàn rỗi”; song nguyên nhân sâu xa nhất là do các quan lại và chức dịch địa phương (chủ yếu là cấp phủ và huyện). Họ cho thuê mướn vì nếu tổ chức cho dân công làng xã làm, thì phải trả “đúng giá”; còn đem thuê, mướn, giá công chắc chắn sẽ thấp hơn, họ sẽ được ăn chênh lệch số tiền, gạo mà nhà nước cấp cho việc đắp và tu bổ đê. Ngoài ra, chắc chắn không tránh khỏi hiện tượng, những “nhân công” được thuê mướn đều là anh em, người nhà của họ. Tham nhũng, móc ngoặc biểu hiện rất rõ trong việc này. Vì thế, Minh Mệnh đã đề ra biện pháp ngăn chặn. Ông lệnh cho các quan đầu tỉnh hiểu dụ để răn bảo các quan cấp dưới, nếu còn tình trạng thuê mướn thì trị tội nặng; đồng thời, sau mỗi lần các địa phương đắp và tu bổ đê, phải xem xét kỹ kết quả thực tế, tinh thần trách nhiệm với công việc của các quan, nhân viên, chia hạng để khen thưởng.

Tuy nhiên, trong việc đắp và tu bổ đê ở 3 tỉnh trên, không phải phủ huyện nào cũng có hiện tượng tiêu cực, thậm chí có địa phương, nhân dân còn thể hiện một tinh thần rất cao vì quyền lợi chung, vì đất nước. Điển hình là huyện Hưng Nhân, tỉnh Nam Định(2). Dân huyện này từng tự nguyện đắp và sửa 70 trượng đê tư(3) mà không nhận số gạo nhà nước cấp, nên được thưởng chung 30 quan; đến khi đoạn đê này không cò tác dụng, phải bỏ, nhân có lời hiểu dụ của các quan, dân lại tự nguyện sửa đắp 70 trượng đê mới, được thưởng chung 800 quan tiền.

Câu chuyện trên đây cho thấy, việc đắp đê cũng như bất kỳ công việc nào đều đòi hỏi sự mẫn cán, thanh liêm của quan lại các cấp, sự đồng thuận và ý thức cao, vì quyền lợi chung của các cộng đồng cư dân. Nhà nước dù còn có những hạn chế về tài chính, nhưng “sẵn lòng” nêu thưởng những tập thể, cá nhân hết mình vì quyền lợi chung, có những đóng góp tích cực vào các công việc chung, nhất là những việc trọng đại, liên quan đến sự an toàn của đời sống thường ngày và lâu dài, như việc đắp và tu bổ đê điều. 

Lời dụ của Vua Minh Mệnh thể hiện một quan niệm rất khác, rất tiến bộ của ông: Một đất nước thái bình, một đời thịnh trị không phải được biểu hiện ở việc dân được an nhàn, mà là phải ham làm việc, bởi chỉ có lao động không ngừng mới tạo ra nhiều của cải, vật chất, mới sáng tạo, dân mới không bị những thói hư, tật xấu cám dỗ.

Câu chuyện và lời dụ của Vua Minh Mệnh vào năm Mậu Tuất cách đây tròn ba “hội” (180 năm) vẫn còn nguyên giá trị với đất nước, xã hội ta hôm nay. Đó là bài học về động viên tinh thần lao động, đóng góp, hy sinh vì quyền lợi chung, vì đất nước của nhân dân các làng xã; về tổ chức triển khai thực hiện để bảo đảm có hiệu quả các công việc lớn cũng như nhỏ, phòng chống tham nhũng, móc ngoặc trong quá trình xây dựng các công trình quốc kế dân sinh./.

Thạch Thiết Hà

-------------------------

(1)-Thuê ở đây là giao cho nhân công (nam giới trong độ tuổi lao động) của các địa phương làm theo chế độ nghĩa vụ, có sự hỗ trợ gạo, tiền của nhà nước (như chế độ dân công nghĩa vụ của ta gần đây); không phải thuê những người làm thuê tự do, có thể tập hợp từ nhiều làng khác nhau, không thuộc một làng nhất định.  

(2)- Nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

(3)- Đê tư là đê do dân các làng xã tự đắp, nhằm bảo vệ làng xóm, đồng ruộng của mình. Đê này không ổn định. Đê công là đê đắp theo quy hoạch của nhà nước, ổn định hơn, được nhà nước hỗ trợ tiền, gạo.