Từ ba chuyện cất nhắc của người xưa

17/08/2016 | 00:05 AM

Xem với cỡ chữ

Chọn, bổ, đề cử người làm việc tại các cơ quan nhà nước các cấp ở bất kỳ thể chế nào cũng rất hệ trọng, vì mỗi người (với năng lực và phẩm chất đạo đức, ý thức với trách nhiệm, công việc) là một mắt xích trong guồng máy cơ quan.

Chuyện thứ nhất,

Tô Hiến Thành (1102-1179), người làng Hạ Mỗ nay là xã  Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, là đại thần Phụ chính (như Tể tướng) dưới hai triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. Ông là viên quan văn võ song toàn, nổi tiếng công minh chính trực, được Vua phong tước vương mặc dù không phải tôn thất nhà Lý. Nhân cách cao thượng của Tô Hiến Thành thể hiện rõ nhất ở chỗ, ông luôn vì lòng trung với nước, vì việc đại sự của triều đình, tìm chọn người thay thế mình trên cơ sở năng lực và trách nhiệm đối với công việc và với chức phận, chứ không vì tình nghĩa. Khi ông làm Phụ chính, có vị quan là Tham tri chính sự Vũ Tán Đường luôn tận tụy phục vụ ông. Khi ông lâm bệnh, Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ thuốc thang cho ông. Thế nhưng, trước lúc mất vào tháng 6 năm Kỷ Hợi (năm 1179), khi Thái hậu hỏi về việc chọn người kế nhiệm chức Phụ chính, Tô Hiến Thành tâu đã chọn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá. Thái hậu rất ngạc nhiên, nhưng thấy ông đã quyết nên không hỏi gì thêm.

Chuyện thứ hai

Trần Anh Tông (1276 - 1320) là một trong những ông vua nổi tiếng của thời Trần, ở ngôi vua 21 năm (1293 - 1314), nhường ngôi để làm Thượng hoàng 6 năm. Tính ông khiêm tốn, hòa nhã, mọi việc trong triều đều tự quyết. Tuy vậy, ông cũng chịu nghe ý kiến của người khác. Hồi còn trẻ, ông hay uống rượu, nhưng chỉ một lần được Vua cha là Trần Nhân Tông khuyên bảo, từ sau đó ông không bao giờ uống nữa. Khi lên làm Vua, có lần ông ban tước hơi nhiều cho các quan trong triều, Thượng hoàng Trần Nhân Tông sai lấy sổ ra xem rồi ghi vào trong đó rằng: "Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong quan tước nhiều như thế?". Từ đó, Anh Tông thận trọng hơn khi ban tước cho các quan. Điển hình nhất là sự kiện khi còn  là Thái tử (con trai Vua được chọn nối ngôi), Trần Anh Tông có hai người cận thần là Nguyễn Sĩ Cố và Chu Bộ theo hầu rất tận tụy, khó nhọc lâu ngày. Song, cả hai tỏ ra không có đức hạnh, kém tài, nên khi lên ngôi Vua, ông đều không cất nhắc họ, chỉ đặt vào chức nhàn tản, cho bổng lộc và tước trật ưu hậu, chứ không trao cho các chức vụ quan trọng (Nguyễn Sĩ Cố về sau chỉ làm đến Thiên chương các học sĩ, là chức chỉ có danh, không có thực quyền; còn Chu Bộ chỉ được coi giữ một số đội cấm binh).

Một lần khác, vào khoảng niên hiệu Hưng Long (1293 - 1314), trong triều khuyết chức Hành khiển (như chức Tể tướng). Một hôm, Anh Tông đến yết kiến Thượng hoàng Trần Nhân Tông, Thượng hoàng gợi ý đưa Nguyễn Quốc Phụ là Nội thư Chánh chưởng (như thư ký riêng của Vua) - từng là cận thần của Nhân Tông. Nhưng, Anh Tông không tuân theo lời cha. Ông thưa rằng: "Nếu lấy ngôi thứ mà ban thì có thể cất nhắc Quốc Phụ được, nhưng Phụ lại nghiện rượu nên không thể". Thượng hoàng Trần Nhân Tông im lặng, không gặng hỏi thêm. Nguyễn Quốc Phụ về sau chỉ giữ chức cũ đến khi chết.

Chuyện thứ ba,

Tháng chạp năm Quang Thuận thứ tám (đầu năm 1468), Vua Lê Thánh Tông sai các quan tiến cử những người cương trực, biết trị kẻ gian tà để cho giữ chức Tri huyện (quan đứng đầu một huyện).

Bấy giờ, Nguyễn Như Đổ là Thượng thư bộ Lại (quan có quyền hành cao nhất trong việc tuyển bổ, thuyên chuyển quan lại của triều đình) đưa một danh sách gồm tám người, đứng đầu là Nguyễn Thế Mỹ, đều là "thế gia thân quen" trình lên để Vua chọn. Vua xem bản danh sách đó và cho rằng, bọn Thế Mỹ mới làm việc, tài năng bình thường nên không bổ nhiệm họ. Vua lại sai các quan tiến cử 10 người đang giữ các chức trong triều để Vua trực tiếp duyệt. Thái bảo Lê Niệm cử Lương Thế Vinh, Đô đốc Trịnh Văn Sái cử Hộ khoa Cấp sự trung (quan ở một khoa - cơ quan thanh tra của một bộ) Đặng Thục Giáo, Thượng thư Trần Phong cử Thượng bảo Tự Khanh (quan ở cơ quan giữ ấn triện, sắc chỉ, chương sớ của vua) Dương Tông Hải, tất cả đều là người thân quen của các vị quan đứng ra tiến cử. Vua xem bản danh sách, thấy phần nhiều trong số những người được tiến cử này tuy có chức vụ, nhưng đều không có thực tài, không xứng chức, nên loại bỏ gần hết, chỉ giữ lại hai người là Giáo thụ (quan phụ trách giáo dục ở một phủ) Nguyễn Nhân Tùy và Huyện quan (quan đang làm việc ở huyện) Đinh Bô Cương trong diện xét chọn. Nhân đó, Vua dụ rằng: "Lục bộ (sáu bộ của triều đình), lục tự (sáu cơ quan giúp việc cho vua) và lục khoa (cơ quan thanh tra ở sáu bộ) mà tiến cử bậy thì chịu tội giáng chức hay bãi chức. Nếu tiến cử được người giỏi thì nhất định sẽ được trọng thưởng".

Các quan trong triều nghe vậy đều kinh ngạc vì sự cẩn thận trong việc chọn quan lại của Vua.

Lời bàn:

Chọn, bổ, đề cử người làm việc tại các cơ quan nhà nước các cấp ở bất kỳ thể chế nào cũng rất hệ trọng, vì mỗi người (với năng lực và phẩm chất đạo đức, ý thức với trách nhiệm, công việc) là một mắt xích trong guồng máy cơ quan. Chỉ một mắt xích "yếu", hoạt động của guồng máy đó ắt không đồng bộ hoặc yếu theo, thậm chí "xộc xệch". Nếu có nhiều mắt xích "yếu", guồng máy đó càng xộc xệch và đi đến "rệu rã". Suy rộng ra, các guồng máy nhỏ (của các địa phương, các ngành) mà yếu liên hoàn thì cả hệ thống guồng máy của đất nước sẽ yếu theo.

Để chọn được những người làm việc có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt cho các cơ quan nhà nước các cấp đòi hỏi sự thận trọng và công tâm rất lớn của người có trách nhiệm (hay có quyền) tuyển bổ, đề cử. Nếu không có sự thận trọng cùng sự công tâm, chỉ vì tình nghĩa thông thường, thậm chí vì vụ lợi cá nhân, hay chỉ vì quyền lợi của một nhóm người, ắt sẽ chọn ra những người kém năng lực và phẩm chất, không quan tâm đến công việc, quyền lợi chung, mà chỉ "bận tâm" đến quyền lợi bản thân và "phe nhóm" của mình. Bộ máy nhà nước ở địa phương, ngành ắt rất yếu ớt.

Trong ba câu chuyện được dẫn ở trên, những người có trách nhiệm trong tuyển bổ, tiến cử quan lại đã thấy rõ được trọng trách của mình, nên rất thận trọng và công tâm với nhiệm vụ.

Ở câu chuyện thứ nhất, Tô Hiến Thành đã "gạt" bỏ tình riêng với Vũ Tán Đường - người đã bao năm tận tâm "cung phụng" ông, để cất nhắc Trần Trung Tá - người có năng lực, có đức độ hơn vào chức vụ Phụ chính.

Ở câu chuyện thứ hai, Vua Trần Anh Tông không chỉ "bứt" khỏi chuyện tình cảm, tình nghĩa với hai cận thần, song kém tài và không có đức hạnh, không trao cho họ các chức trách quan trọng trong triều; mà còn rất thận trọng, không tuân theo cả gợi ý của cha - Thượng hoàng trong việc đưa một người nghiện rượu vào chức Tể tướng. Trần Anh Tông là điển hình cho "mẫu vua" không để tình riêng xen vào lợi chung, trong một công việc rất hệ trọng: Tìm chọn Tể tướng.

Ở câu chuyện thứ ba, Lê Thánh Tông là vị Vua điển hình cho sự sâu sát, thận trọng trong việc chọn cử quan ở cấp huyện - người thay mặt Vua và triều đình "chăn dắt" dân ở một huyện, cấp gần sát dân nhất, là "bộ mặt" của triều đình trong việc tiếp xúc với dân, giải quyết các mặt đời sống của dân. Vì thế, mà ông đã "bác" tất cả những tiến cử đầy tính vụ lợi, chỉ vì tình cảm của các vị quan trong triều.

Ba câu chuyện chứa đựng một bài học chung vẫn còn có ý nghĩa thời sự với công tác cán bộ trong xã hội ta hiện nay.

                                                Thạch Thiết Hà