Tinh thần mẫn cán vì dân của các quan thời Vua Minh Mệnh

29/01/2018 | 15:02 PM

Xem với cỡ chữ

Tháng năm, năm Quý Tỵ đời Vua Minh Mệnh (tháng 6 năm 1833), bộ Công (một trong sáu bộ của triều đình phong kiến, chuyên trách về giao thông, đê điều) bàn tâu: “Nha môn Đê chính đã bãi bỏ, công việc phòng đê đều do tổng đốc, tuần phủ(1) các tỉnh quản lĩnh. Nhưng trong đó, có những sự thể không được giống như trước. Nếu cứ một mực theo chương trình trước đã định thì e làm việc có chỗ không đúng. Vậy xin châm chước để định lại”.

Vua Minh Mệnh chuẩn y cho các quan bàn và tâu lên. Sau đó, các quan bộ Công có lời bàn có nội dung 4 điểm như sau:

1. Theo lệ, công trình sửa đê, hằng năm cứ đến kỳ nước lên, tổng đốc, tuần phủ xét các bờ đê trong hạt mình tuần tra theo như lệ thường. Nếu gặp công việc hiểm hóc mà quân và dân trong hạt sửa chữa không khắp, thì đều được phép phi báo cho hạt bên cạnh, bắt lính và dân gắp đến hộ đê, cẩn giữ cho khỏi lo ngại. Nếu hạt bên cạnh vì lòng phân biệt giới hạn, không chịu phái người đến giúp, hoặc chỉ làm cho nhuế nhóa(2), tắc trách, để đến nỗi hỏng việc, thì chuẩn cho cứ thực tâu hặc để truy cứu vì lý do gì, rồi phân biệt xử tội. Nếu công trình ở chỗ hai hạt giáp nhau, thì cho các tổng đốc và tuần phủ hội thương cùng nhau mà làm. Nếu có sự sơ suất, lầm lẫn thì phải liên đới chịu lỗi.

2. Lệ giữ vững đê, xét công [người coi đê] và ban thưởng: Phàm công việc đê, dùng tổng đốc, tuần phủ làm đốc tu, bố chính làm giám tu; các viên phủ, huyện và những viên do tỉnh phái đi làm đê đều là chuyên biện, vẫn cứ theo chương trình trước mà bàn việc thăng thưởng. Đầu là đốc tu tức tổng đốc và tuần phủ, thứ đến giám tu là bố chính, thứ nữa đến chuyên biện là các viên phủ huyện và những viên do tỉnh phái đi cùng làm. Những viên đang được bàn định thăng thưởng, đều do tổng đốc và tuần phủ cứ thực khai vào sổ sách, do bộ đề tấu, đợi chỉ; sau giao cho bộ Lại châm chước phân biệt bàn định thăng thưởng. Cứ 3 năm một lần làm danh sách các thuộc viên hàng tỉnh và nha dịch phủ huyện, từ bát, cửu phẩm trở xuống, hễ làm việc siêng năng, được đợi ân thưởng, thì cũng do tổng đốc và tuần phủ kê danh sách xếp thành từng loại. Ngoài ra, đều theo lệ trước.

3. Lệ xử tội để đê vỡ: Theo chương trình trước mà phân xử, đầu là chuyên biện, tức các viên phủ huyện và những viên do tỉnh phái; thứ đến giám tu là bố chính; thứ nữa đến đốc tu là tổng đốc và tuần phủ. Những nhân viên đang bị xử ấy đều do đốc, phủ kê vào sổ sách, do Bộ đề tâu, đợi chỉ, sau giao cho bộ Lại châm chước phân biệt xét xử. Ngoài ra đều y như lệ trước.

4. Lệ xử tội đắp đê mới không được kiên cố: Cứ theo chương trình trước, phàm đê đắp không kiên cố hợp thức về kích thước, về số lượng, thì trách cứ vào những chuyên biện là phủ huyện và viên tỉnh phái đi cùng làm, luôn với các lại dịch của các tỉnh phủ, huyện theo đi làm đê. Phàm những nhân viên đã bị xét xử vì việc đắp đê không kiên cố, không hợp thức, số người ấy nhiều hay ít, là căn cứ vào sự xét hỏi của đốc phủ là đốc tu và bố chính là giám tu, rồi do đốc, phủ kê vào sổ sách, do Bộ đề tâu đợi chỉ, sau giao bộ Lại châm chước mà phân biệt xét xử.

Đến như đê mới đắp không kiên cố hợp thức mà phải đắp đền, thì chờ chỗ phải đắp đền xong, do các đốc, phủ tâu lên sẽ phải quan ở Kinh đô ra khám lại. Nếu quả thật đã kiên cố, hợp thức tất cả rồi, thì do bộ tâu lại, đợi chỉ chước lượng cho khai phục. Nếu đốc tu và giám tu tham hặc, những quan lại chuyên biện làm đê không kiên cố, hợp thức, thì được miễn nghị. Còn ngoài ra cứ theo lệ trước mà làm. Vua Minh Mệnh sau đó đã chuẩn y điều bàn định của các quan. (Nguồn: Sách Đại Nam thực lục, tập 3, trang 579 - 580).

Lời bàn:

Đối với vùng trung du và châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, từ ngàn xưa, đê điều giữ một vai trò rất quan trọng. Đê ngăn nước lụt, bảo vệ làng xóm, đồng ruộng, mùa màng. Đê còn là đường giao thông nối liền các địa phương, phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Vì vậy, Nhà nước các thời luôn quan tâm cùng các cộng đồng dân cư các địa phương tu bổ đê trước và sau mỗi mùa mưa lũ. Việc giữ được đê trong những năm nước lớn rất khó khăn, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, sự mẫn cán của quan lại các cấp, sự hợp tác giữa quan lại các địa phương và cư dân các làng xã có chung tuyến đê. Thời Nguyễn, vào tháng Giêng năm Mậu Thìn đời Vua Gia Long (tháng 2 năm 1808), triều đình cho đặt Nha môn đê chính (Đê chính nha) là cơ quan thuộc bộ Công, chuyên trách trông coi đê điều.

Vào tháng Tư năm Quý Tỵ đời Vua Minh Mệnh - 1833, Nha đê chính bị giải thể (do nhiều vị quan trong triều cho rằng có sự mâu thuẫn giữa quản lý đê của Nha đê chính và quản lý hành chính), việc quản lý đê giao cho các quan đứng đầu các tỉnh. “Tiên lượng” được những bất cập, khập khiễng trong quản lý đê khi một cơ quan chuyên trách bị bãi bỏ, chuyển giao trách nhiệm cho các quan đầu tỉnh, các quan bộ Công đã kịp thời đưa ra lời đề nghị về quản lý, tu bổ đê điều. Lời đề nghị của các quan trong Bộ tập trung vào các điểm chính:

- Trách nhiệm của các quan đầu tỉnh trong việc khám xét đê, huy động nhân lực, vật lực để đắp đê vào đầu mùa mưa, việc giữ đê trong mùa mưa lũ, cùng trách nhiệm hợp tác giữa hai địa phương có đoạn đê tiếp giáp nhau.

- Thể lệ khen thưởng những người có công cùng trong việc đắp, giữ đê; cùng thể lệ xử tội các quan để đê vỡ, đắp đê mới không theo quy chuẩn, không kiên cố và không đủ khối lượng, dựa trên tinh thần trách nhiệm cụ thể của từng vị quan lại.

Từ việc các quan bộ Công đề nghị điều chỉnh các điều lệ về đê điều khi cơ quan chuyên trách về đê bị bãi bỏ, đến nội dung cụ thể của các đề nghị ấy, ta thấy các quan bộ Công triều Vua Minh Mệnh thể hiện tinh thần trách nhiệm cùng tính mẫn cán, công tâm đáng khâm phục:

Một là, thấy rõ những bất cập, hệ quả khi Nha đê chính không còn tồn tại, các công việc liên quan đến đê điều do bộ quản lý trước đây, nay chuyển giao cho các quan đầu tỉnh nên đã kịp thời đề nghị điều chỉnh các điều lệ về đê điều; không mang tư tưởng “mặc kệ, thối thoái trách nhiệm” khi cơ quan thuộc bộ mình quản lý không còn; cũng như ngăn chặn tư tưởng cục bộ địa phương khi thực hiện các phần việc liên quan đến các địa phương kề cận.  

Hai là, những nội dung điều chỉnh điều lệ về đê điều vừa kế thừa được nội dung điều lệ cũ, thấy rõ những bất cập của lệ cũ trước tình hình mới để đưa ra đề nghị điều chỉnh, rất sâu sát, rất cụ thể. Chính vì những khách quan, hợp lý này mà Vua Minh Mệnh đã chuẩn y cho thi hành.

 Những nội dung đề nghị này về đê điều vẫn phù hợp với xã hội ta ngày nay, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến rất phức tạp. Từ lời đề nghị của các quan bộ Công về đê điều khi cơ quan chuyên trách về đê bị bãi bỏ có thể rút ra những bài học lớn về cung cách làm việc của các cơ quan quản lý khi giải thể 1 bộ phận, 1 cơ quan thuộc quyền quản lý của mình trong bộ máy hành chính hay các cơ quan công quyền của xã hội ta ngày nay./.

---------------------

1 Tổng đốc: Quan đứng đầu một tỉnh lớn kiêm quản một tỉnh nhỏ kề cận; tuần phủ: Quan đứng đầu một tỉnh.

2 Tức xuê xoa, làm dối, làm ẩu.

Thạch Thiết Hà