Nhân cách vị Thượng hoàng qua ứng xử với trận ốm năm Dậu

19/01/2017 | 15:38 PM

Xem với cỡ chữ

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép, đầu năm Đinh Dậu, niên hiệu Thiệu Phong thứ 17 (năm 1357), Thượng hoàng Trần Minh Tông ốm nặng, triều đình muốn lập đàn chay cầu đảo để mong Thượng hoàng qua khỏi. Minh Tông biết tin, cho gọi con là Vua Trần Hiến Tông vào tận giường để hỏi rõ sự tình. Sợ bị Thượng hoàng mắng, Hiến Tông liền cho Hữu tướng quốc Phủ vào tâu với Thượng hoàng rằng, có việc lập đàn đó là do Phạm Ứng Mộng khởi xướng, xin được chết thay Thượng hoàng. Minh Tông nghe vậy liền bảo rằng: "Nếu Ứng Mộng tự nhận là địa vị Chu Công(1) thì bảo hắn cứ lấy mình mà chết cho cha hắn, còn đàn chay cho ta thì không được làm". Sau đó, Hiển Từ thái hậu (phu nhân của Thượng hoàng) lại tổ chức phóng sinh nhiều loại chim, thú để cầu cho ông khỏi bệnh. Minh Tông biết tin liền bảo rằng: "Thân của ta không thể lấy con dê, con lợn mà đổi được". Tuy nhiên, bệnh của Thượng hoàng ngày càng trầm trọng, triều thần cho gọi bọn thầy thuốc nước Nguyên do Trâu Canh dẫn đầu vào xem mạch. Minh Tông biết rõ Trâu Canh và đồng bọn chuyên tung những câu nói kỳ lạ, những mưu kế gian để lòe bịp nên rất ghét họ. Khi nghe Trâu Canh nói Thượng hoàng bị "mạch phiền muộn", Minh Tông "xuất khẩu" ngay bài thơ chế nhạo:

          Xem mạch đừng nên nói muộn phiền

          Trâu Canh hãy liệu thuốc cho yên

          Bảo rằng phiền muộn không nên nghỉ

          Chỉ sợ càng tăng phiền muộn thêm.

Khi bệnh nguy kịch, bọn Trâu Canh đưa thuốc đến, Minh Tông nói với bọn họ rằng: "Người ta ở đời bao nhiêu khổ não, ngày nay thoát được khổ não này thì ngày khác lại chịu khổ não khác", rồi không chịu uống thuốc. Ít lâu sau, ông mất, vào ngày 19 tháng hai năm Đinh Dậu  (10 - 3 - 1357).

Đoạn tư liệu ngắn gọn trên đây cho thấy, Trần Minh Tông là người tự tin, ghét mê tín dị đoan, thiết thực, biết được "mệnh trời" và "mệnh mình", nên ông chối từ, thậm chí cả phản đối việc lập đàn cầu đảo; không thuận theo cả việc vợ ông tổ chức phóng sinh mà theo kẽ thông thường, một người tuổi già, khi bị ốm đau thường mong dùng đủ các biện pháp, nghe lời khuyên của nhiều người - nhất là những người thân thích như vợ con, để không chỉ mong qua được bệnh, mà còn để yên lòng người thân. Ông cũng rất am hiểu lịch sử Trung Quốc, các điển tích của đất nước này, nhưng không xem đó là "mẫu hình" phải theo. Ông cần sống, nhưng không phải cần bằng mọi phương cách, kể cả bằng cách lòe bịp của những thầy thuốc người Nguyên.

Những thông tin trên cũng cho thấy Minh Tông là người rất quyết đoán, ứng xử đúng vị thế của mình, lường trước được những hậu quả không lường nếu ông chấp nhận "thụ nhận" các nghi lễ trên. Chỉ cần ông ngồi vào đàn lễ hay ở cạnh đàn lễ, chắc chắn sẽ có không chỉ hoàng tộc dốc sức lo toan, mà đội ngũ đông đảo các vị quan "hết lòng" phục vụ; sẽ không chỉ tốn kém thì giờ, tiền của mà còn gây ra phiền phức, thậm chí còn gây ảnh hưởng xấu đến hoàng tộc, đến triều đình, đến thần dân cả nước. Vì thế, ông thanh thản đón nhận những điều không may mắn nhất đang đợi ở phía trước mình, chối bỏ những "nghi lễ" do triều thần, người thân sắp đặt.

Trần Minh Tông (1300 - 1357) được sử cũ ghi là người "đem văn minh sửa sang trị đạo, làm rạng rỡ cơ nghiệp người trước, giữ lòng trung hậu, lo xa cho con cháu, trong nước được yên, bên ngoài theo phục, rường mối đều bày". Ông ở ngôi vua 15 năm (1314 -1329), làm Thái Thượng hoàng 28 năm (1329 - 1357). Sở dĩ Minh Tông có được sự nghiệp rạng rỡ đó như sử sách ghi nhận trước hết vì ông được sinh ra và lớn lên trong môi trường giáo dục nghiêm ngặt, bài bản của hoàng tộc. Ông là con thứ tư của Vua Trần Anh Tông. Sử cũ ghi lại, bấy giờ, các hoàng tử nhà Trần sinh ra đều rất khó nuôi, nên khi Hoàng tử Mạnh (tên húy của Trần Minh Tông) sinh, Vua Trần Anh Tông đã nhờ Công chúa Thụy Bảo (cô của Vua Trần Nhân Tông) nuôi, sau lại nhờ Thái sư Trần Nhật Duật (anh của Công chúa Thụy Bảo) nuôi, được Nhật Duật chăm nom không khác gì con mình và được rèn rũa rất nghiêm khắc, theo nếp của hoàng tộc. Chính vì thế, ông sớm có những nhận thức và cư xử đúng đắn, chỉn chu. Sử cũ ghi lại, ông là con thứ tư, nhưng được nối ngôi, do lúc đó, vợ đích của Vua (Thượng hoàng Anh Tông) chưa sinh hoàng tử. Đến khi người vợ đích này sinh con trai, đến ngày người con này đầy tuổi tôi, Thượng hoàng Trần Anh Tông bận việc đi tuần ở biên giới, Minh Tông khi đó đang ở ngôi báu vẫn quyết định làm lễ trao lại (tượng trưng) ngôi cho người anh em cùng cha khác mẹ đó, đợi khi người đó lớn sẽ chính thức trao quyền. Có quan trong triều can ngăn, cho rằng "Việc ấy sinh nguy hiểm, xin nghĩ lại", nhưng Minh Tông gạt đi: "Cứ thuận nghĩa mà làm, yên hay nguy không cần lo đến". Song, không may, được hơn một tuổi, người anh em mà Minh Tông đã sẵn sàng nhường ngôi kia bị chết và ông rất thương xót.

Minh Tông cũng là người thấu hiểu cuộc sống của dân, nhất là ở Kinh thành Thăng Long, có một cái nhìn rất thoáng trong quản lý xã hội. Qua đó cũng rất tinh tường phát hiện những người cơ hội tìm cách tiến thân. Bấy giờ, có người học trò dâng sớ lên ông với nội dung trong dân có nhiều người du đãng, không có tên trong số, không chịu thuế dịch, sai phái tạp dịch không đến nơi. Minh Tông trách người học trò đó bằng lới nói trước triều thần rằng, "nếu không có người như thế, thì sao thành đời thái bình, ngươi muốn ta trách phạt họ thì có được việc gì không?". Khi đó, một số quan đại thần có ảnh hưởng lớn trong triều, như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh cũng khuyên ông "thay đổi chế độ" (tức thay đổi cách quản lý như ý của người học trò kia). Ông bảo với các vị đại thần rằng: "Nhà nước đã có phép tắc nhất định, nếu theo kế của kẻ học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh loạn ngay; làm vua dùng người không phải là cho riêng cho người ấy đâu".  Cách đối nhân xử thế này của ông đã gây được sự ổn định của hoàng tộc, sự cảm phục, kính trọng, nể phục của hoàng tộc cũng như của các quan trong triều.

Trần Minh Tông cũng rất nghiêm khắc với các con mình. Ông luôn hướng các con vào những việc lớn của đất nước, không chuyên chú vào các việc vật chất, làm giàu và dặn các hoàng tử: "Con nào mà cố sức mưu tính sản nghiệp, keo sẻn làm giàu thì không phải là con ta". Phút lâm chung của ông, các hoàng tử đều ở bên cạnh, ông bảo các hoàng tử rằng: "Các con nên xem việc làm của người đời xưa, việc gì phải thì theo, việc gì không phải thì lánh xa, không cần gì cha phải dạy".

Sử gia Phan Phu Tiên bình luận: "Minh Tông có lòng nhân hậu, nối nghiệp thái bình, phép cũ của tổ tông không thay đổi gì". Sử gia Ngô Sĩ Liên cũng đánh giá "Minh Tông được nên đức tốt, tuy là có tư trời tốt, cũng là do ở sức dạy bảo của vua cha… Ấy được sự răn dạy nghiêm ngặt như thế, cho nên đức của vua vì thế mà nên, đến cả các con của vua cũng đều có tài nghệ cả". 

Nhân năm Đinh Dậu, năm con gà, nhắc lại câu chuyện về ứng xử của Thượng hoàng Trần Minh Tông với bệnh tật, trước triều thần vào năm Đinh Dậu của 11 hội (660 năm) trước để mọi người cùng suy ngẫm./.

----------------------------

(1) Chu Văn Công (hay Chu Công Đán) là công thần khai quốc của nhà Chu ở Trung Quốc. Khi Vua Chu Vũ Vương vì tuổi đã cao, lo nghĩ nhiều về việc nước nên mới lên ngôi được vài năm thì mắc bệnh nặng. Chu Văn Công đã sai người lập đàn tế, cầu khấn trước bài vị của tiên tổ, mong được chết thay cho Chu Vũ Vương. Được vài hôm, bệnh của Vũ Vương thuyên giảm.

Thạch Thiết Hà