Luật “Hồi tỵ” của nhà nước phong kiến Việt Nam

05/10/2016 | 05:58 AM

Xem với cỡ chữ

Để bộ máy các cơ quan Đảng, chính quyền, các cơ quan chuyên môn hoạt động có hiệu quả, cần triệt để thực hiện hơn nữa tinh thần của Luật Hồi tỵ của nhà nước phong kiến trước đây.

"Hồi tỵ" nguyên nghĩa tiếng Hán là "tránh đi" hoặc "lánh đi"; về sau là một khái niệm để chỉ chế độ làm việc của quan lại và của Nhà nước, xuất hiện từ lâu đời ở Trung Quốc. Theo đó, những người có quan hệ cha con, anh em, thầy trò, bạn bè, cùng quê… không được cùng làm quan hay làm việc một chỗ; hoặc quan lại không được làm việc tại bản quán, quê mẹ, quê vợ... Nếu ai gặp một trong những trường hợp trên đây thì phải tâu báo lên để chuyển bổ, "phân tán" đi nơi khác. Sở dĩ có việc "Hồi tỵ" đó vì các vua phong kiến cho rằng, những người có quan hệ thân thuộc, gần gũi nhau thường nể nang nhau, làm việc không khách quan, gặp khi người nhà, người thân của mình "có chuyện" thì thường né tránh hoặc bao che cho nhau, gây ra nhiều tiêu cực, làm cho bộ máy nhà nước kém hiệu lực; đồng thời, những người thân quen nhau thường "đồng cảm" dẫn đến đồng lõa với nhau trong việc thu vén quyền lợi, có thể dẫn đến vây bè kéo cánh với nhau để tham nhũng tiền của của nhà nước.

Các vua phong kiến Việt Nam đã tiếp thu và vận dụng chế độ Hồi tỵ vào việc xây dựng bộ máy chính quyền và cung cách làm việc của các cơ quan nhà nước. Người đầu tiên áp dụng có lẽ là Vua Lê Thánh Tông. Năm Bính Ngọ niên hiệu Hồng Đức (1486), ông ra chỉ dụ cấm quan lại được lấy vợ là đàn bà, con gái tại nơi làm quan, nhằm "ngăn chặn từ xa" tình trạng các bà vợ "chỉ huy" các ông quan chồng để thao túng quyền hành. Vào năm Mậu Thân (1488), Vua xuống chiếu cấm những người là chú, bác - cháu ruột, anh em ruột (đến năm Bính Thìn - 1496), quy định được mở rộng đến cả những người là anh em con cô con cậu, con dì con già và cả những người là thông gia với nhau cùng làm xã trưởng (như các chức chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã hiện nay). Nếu đã cùng làm xã trưởng rồi thì giữ lại một người "đứng đắn nhất", có thể làm được việc, còn những người khác thì phải về làm dân. Trong Quốc triều hình luật (thường gọi là Luật Hồng Đức) cũng có một số điều khoản mang tính "Hồi tỵ".

Vua Minh Mạng là người thực hiện Luật Hồi tỵ một cách tích cực và triệt để. Trong cuộc đời hơn 20 năm làm vua của mình, từ năm Canh Thìn (1820) đến năm cuối năm Canh Tý (đầu năm 1841), ông đã nhiều lần ra chỉ dụ về quy định Hồi tỵ, mà những nét lớn là :

- Các lại dịch (nhân viên) ở nha môn các bộ ở Kinh đô và các tỉnh là cha con, anh em ruột, anh em con chú con bác với nhau thì phải "tách ra", đổi bổ đi nơi khác. Những người có quan hệ thông gia, thầy trò, người cùng quê quán… cũng không được cùng làm quan tại một địa phương, cùng làm việc tại một công sở.

- Các quan lại không được làm quan ở chính quán (quê hương mình), nơi trú quán (nơi đã sinh sống một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình, thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi. Các lại mục, thông lại (nhân viên hàng chính ở các phủ, huyện) cũng không được làm việc ở phủ huyện là quê hương mình.

- Các lại mục, thông lại (nhân viên hành chính) ở các huyện, phủ là người cùng một làng, xã cũng phải "hồi tỵ", phân tán, đổi bổ đi nơi khác.

- Các quan từ tham biện (hay biện lý, quan làm nhiệm vụ tư vấn về một khía cạnh nào đó ở một bộ, hay ở tỉnh) trở lên khi về Kinh đô chầu được đình nghị (dự bàn các việc của triều thần), song nếu các cuộc họp đó có bàn đến các việc liên quan đến địa phương mình nhậm trị hay việc của bộ mà mình phụ trách thì phải "lui ra".

Những điều Hồi tỵ trên càng được thực thi nghiêm ngặt trong các kỳ thi Hương, thi Hội (quan lại không được về coi thi, chấm thi tại tỉnh là quê đẻ, quê mẹ, quê vợ, nơi học hoặc nơi dạy cũ).

Tuy nhiên, một số cơ quan và ngành không áp dụng luật Hồi tỵ. Ví dụ, Ty Chiêm hậu là cơ quan chuyên trách về lịch, Ty Hiệu lễ sinh chuyên coi về lễ nghi, Khâm Thiên giám là cơ quan chuyên về thời tiết, không phải cơ quan hành chính nên không phải "hồi tỵ"; Thái y viện là cơ quan chuyên chăm sóc sức khỏe cho vua, cần "cha truyền con nối" để làm việc nên cũng không phải "hồi tỵ".

Trên thực tế, sử cũ ghi lại, Vua Minh Mệnh thực hiện và giám sát luật Hồi tỵ rất sát sao. Có lần, vào năm Đinh Dậu (1837), triều đình cử Nguyễn Song Thanh là Lang trung (quan đứng đầu một cơ quan dưới bộ) làm Quyền Bố chính (như Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hiện nay) tỉnh Định Tường, nhưng khi biết vị quan này thời trẻ đã từng học ở đây, quen biết nhiều nên đã cho đổi ông ta về nhậm chức ở tỉnh Bình Định và điều người khác thay thế.

Luật Hồi tỵ đã giúp nhà nước phong kiến ngăn chặn được những hiện tượng những người có quan hệ họ hàng, thông gia, thầy trò, cùng quê… cùng làm việc tại một địa phương, một công sở; khắc phục tình trạng vì tình cảm mà nể nang, né tránh nhau, bao che khuyết điểm của nhau vì sợ "rút dây động rừng"; một số người dựa dẫm hay ỷ thế của người nhà làm quan đứng đầu tại địa phương, công sở để làm càn…, làm cho bộ máy các cơ quan nhà nước hoạt động kém hiệu quả; đặc biệt là ngăn chặn được tư tưởng cục bộ (cục bộ dòng họ, cục bộ địa phương), dẫn đến sự hình thành "lợi ích nhóm" của một số quan lại để đục khoét của cải của nhà nước. 

Rõ ràng, Luật Hồi tỵ có tác động tích cực rất to lớn. Đáng tiếc, trong quá trình xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, do những điều kiện chủ quan và khách quan, chúng ta đã không lưu tâm đến việc tiếp thu, kế thừa những mặt tích cực của Luật Hồi tỵ. Trong xã hội ta từ bao năm qua, hiện tượng người cùng họ, cùng làng "hiện diện" ở rất nhiều cơ quan Đảng, chính quyền, các cơ quan chuyên môn của không ít địa phương, bộ, ngành; dẫn đến hệ quả không chỉ là "chi bộ dòng họ", "chính quyền dòng họ" ở nông thôn trước đây; mà còn là cảnh bố - con, anh - em, chú - cháu, thậm chí phòng ban, bộ phận nào cũng thấy "con cháu các cụ", ở không ít các cơ quan nhà nước, dẫn đến những hiện tượng trái chiều là "bố bổ nhiệm con, con bổ nhiệm bố, con kính thưa bố"… Gần đây nhất, dư luận cả nước xôn xao về  vụ "Cả họ tham gia bộ máy lãnh đạo huyện": Tại một huyện của thành phố Hà Nội có đến vài chục người là anh em, họ hàng với các lãnh đạo chủ chốt của huyện. Lấy Bí thư huyện ủy làm "trục trung tâm" thì có đến hơn 10 người giữ nhiều vị trí quan trọng của ủy ban nhân dân huyện và Huyện ủy, như Trưởng Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phó Chánh Văn phòng Huyện ủy, Phó Phòng Kinh tế, Phó Ban quản lý dự án, kế toán Phòng Quản lý đô thị v. v. đều là người nhà của ông: là cô, em họ, chị họ, cháu, con dâu, con thông gia, em vợ v. v. "đủ kiểu". Ngoài ra, các phòng ban khác, đâu đâu cũng có người là con cháu - anh em cùa các vị lãnh đạo chủ chốt khác. Vậy mà, người đứng đầu bộ phận tổ chức cấp trên của địa phương đó vẫn cho rằng, đó là do… ngẫu nhiên (!?). 

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thấy được sự nguy hại của tình trạng người có quan hệ họ hàng cùng làm việc tại một công sở nên đã từng bước đưa ra một số quy định mang tính "hồi tỵ"; song tính khả thi và tính hiệu quả của các quy định đó còn rất hạn chế.

Để bộ máy các cơ quan Đảng, chính quyền, các cơ quan chuyên môn hoạt động có hiệu quả, cần triệt để thực hiện hơn nữa tinh thần của Luật Hồi tỵ của nhà nước phong kiến trước đây./.

                                                                   Thạch Thiết Hà