Khu đất chợ và 45 năm tranh chấp

30/11/2016 | 10:28 AM

Xem với cỡ chữ

Vụ tranh chấp khu đất chợ kéo dài 45 năm, giữa hai làng thuộc một huyện ngoại thành Hà Nội ngày nay, được lưu lại trong văn bia tại ngôi đền của một trong hai làng và vẫn được các bậc cao niên hai làng kể lại. Vì lý do riêng, bài viết xin được gọi tên hai làng là "làng Kha" và "làng Tú". Cái đích của việc tranh chấp này là khu đất chợ có nguồn gốc được cắt nghĩa bằng câu chuyện dân gian.

Chuyện kể rằng, vào một triều vua nọ, làng Tú có một cô gái xinh đẹp được Vua lấy làm phi. Vì không có khả năng sinh con, bà được Vua cho về nhà và ban lộc bằng cách cho được thả một quả bưởi xuống sông chảy qua làng, để bưởi trôi từ làng Tú xuống phía hạ lưu. Bưởi trôi đến đâu, đất đai đôi bờ sông đều thuộc về làng Tú. Tuy nhiên, quả bưởi lại "dừng lại" ở gốc đa làng Kha kề cận, trên phần đất vốn là hành cung của vị Vua trên; sau này nơi đó hình thành ngôi đền thờ Vua và ngôi chợ sầm uất.

Người làng Kha phải tuân theo lệnh Vua, nhưng "ấm ức" vì mất đất, mất ruộng. Từ năm Quý Mão niên hiệu Cảnh Trị (năm 1663), làng Kha liền tranh chấp với làng Tú, khiếu kiện lên quan trên, mục đích để đòi lại khu đất có chợ và ngôi đền mang lại nhiều mối lợi cho làng. Làng Tú cũng tìm đủ chứng lý để bảo vệ quyền lợi của mình. Cả hai bên cùng đưa ra lời lẽ, bằng chứng tố cáo về hành vi phạm luật và xâm phạm lợi ích của làng kia. Các quan phủ đã về xem xét, căn cứ vào sổ sách, hiện trường khu vực đất tranh chấp để phân xử, trả lại các phần đất cho từng làng một cách hợp tình, hợp lý, trong đó, khu đất chợ thuộc quyền quản lý của làng Kha và ra lệnh cho hai bên, sau khi đã phân xử xong phải hòa hảo, không được tranh chấp, bên nào cưỡng lại thì chuyển lên quan trị tội theo luật.

Tuy nhiên, 31 năm sau (năm Giáp Tuất niên hiệu Chính Hòa, 1694), vụ tranh chấp lại bùng phát. Người làng Tú phát đơn kiện lên huyện với lý rằng, khu đất chợ đó là của mình. Người làng Kha cũng kiện lại. Mãi đến năm Canh Thìn (1700), vụ kiện mới được các quan phân giải: Làng Kha vẫn được quyền quản lý khu đất chợ, nhưng không được thu thuế chợ đối với người làng Tú; còn làng Tú thì không được ghi đất ấy trong sổ ruộng đất của mình.

Sự việc lại tưởng như đã được giải quyết ổn thỏa. Nhưng, 5 năm sau (năm Ất Dậu, 1705), các chức sắc làng Tú lại khởi kiện lại với chứng cứ là trong số ruộng đất của làng có hàng chữ ghi khu đất chợ 6 sào ở phía Tây thuộc quyền sở hữu của mình. Không chịu thiệt, làng Kha kiện lại lên các quan trấn Kinh Bắc. Không rõ vì sao lần này, các quan trấn đã xử thắng cho làng Tú, đồng thời buộc làng Kha chịu ba quan tiền án phí. Vừa mất đất, vừa bị phạt, người làng Kha đồng lòng khiếu kiện và lần này, không chỉ có những người đang sống trong làng, đứng đầu là các xã thôn trưởng mà cả những người làng đang làm quan ở các nơi cũng tham dự, trong đó có cả các quan chức đứng đầu các trấn (như cấp tỉnh sau này) Lạng Sơn, Tuyên Quang, cả người đỗ tiến sĩ... Tất cả đồng lòng cam kết theo đuổi vụ kiện để "giành lại đất làng" và lập ra "thoả ước" chung, vào ngày 13 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh thứ hai (22-7-1706), đồng thời cử ba người là xã trưởng (như lý trưởng sau này), đề lại (nhân viên hành chính ở huyện) và cựu xã trưởng, thay mặt làng "hằng ngày đi theo kiện". Bản thỏa ước được gửi lên cả quan trên, có điều khoản bảo vệ và bảo đảm quyền lợi cho những người "nhận sứ mệnh" cao cả thay mặt làng theo đuổi vụ kiện như sau:

- Trong vụ kiện này tốn kém bao nhiêu, dân làng cùng chịu;

- Trong khi đương kiện, dân làng sẽ chịu tất cả các khoản chi phí tốn kém cho người nào bị bắt giam; ai bị đánh đòn thì cứ một đòn, làng bồi thường một khoản tiền, hoặc bị tra khảo bằng búa thì bồi thường cho mỗi búa là 30 đồng;

- Ai bị hình nặng (tức bị tội tử hình), làng giết trâu bò, mổ lợn cúng tế trong ba kỳ giỗ theo đúng nghi thức; các con trai của người ấy được miễn sưu sai tạp dịch suốt đời; nếu bị hình phạt nhẹ thì làng đền 100 quan và cho một người con trai được miễn phu phen tạp dịch suốt đời;

- Nếu việc kiện thắng lợi, hằng năm làng sẽ kính biếu những người đó vào các dịp cúng tế trong ba đời.

Sau đó, vào ngày mồng 6 tháng 3 năm Vĩnh Thịnh thứ ba (08-4-1707), những người nhận "sứ mệnh cao cả" trên đây đã làm văn bản gửi lên triều đình với đầy đủ chứng cớ về việc người làng Tú tự tiện ghi thêm hàng chữ nhỏ vào số ruộng đất nhằm khẳng định quyền của họ với khu đất chợ nêu trên.

Triều đình liền phái một số quan về xem xét, nhưng do sự việc diễn biến phức tạp, nên phải đến hơn một năm sau, ngày 6 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh thứ tư (23.- 7- 1708), các quan triều đình mới đưa ra lời luận án: Xác nhận hàng chữ ghi trong sổ ruộng đất của làng Tú là hàng chữ nhỏ, do người làng đó tự ý thêm vào, không phải là bút tích của các quan khi phân xử năm trước; do đó làng Kha vẫn được quyền quản lý số đất trên và được quyền thu tiền thuế chợ đối với người làng Tú; làng Tú "không được tranh giành càn bậy nữa".

Để khẳng định "chủ quyền thiêng liêng" của mình đối với khu đất trên, ngày mồng 6 tháng 5, năm Vĩnh Thịnh thứ năm (13-6-1709), làng Kha đã lập bản "Xã nội bằng tích" (Bằng chứng trong xã) khắc trên bia, nhắc lại toàn bộ vụ việc đã xảy ra để cho ngời làng ghi nhớ làm bằng, đề phòng người làng Tú tranh kiện, và để "không còn tranh luận ầm ỹ nữa".

Lời bàn:

Từ vụ tranh chấp khu đất chợ giữa hai cộng đồng làng xã diễn ra dài lâu, giằng co quyết liệt thuộc diện "nhất, nhì" trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam này, có thể thấy một vài khía cạnh:

Một là, đất đai - tư liệu sản xuất quan trọng nhất, tài sản quý giá nhất của cư dân nông nghiệp, nhất là đất ở những khu vực "nhạy cảm" (gắn với chợ, với các công trình thờ cúng...) luôn là đầu mối, là tác nhân quan trọng nhất của việc tranh chấp, khiếu kiện giữa các cá nhân, các cộng đồng với nhau và việc tranh chấp, khiếu kiện luôn diễn ra kéo dài, căng thẳng.

Hai là, vụ tranh chấp khu đất chợ giữa hai làng diễn ra quyết liệt, kéo dài còn do những nhân tố khác:

- Đây là sự tranh chấp giữa hai cộng đồng đứng đầu hai tổng. Cấp "Tổng" trên thực tế xuất hiện từ thời Mạc (1527 - 1593). Mỗi tổng gồm một cụm làng, trong đó có một làng có "tính trội" về nhiều mặt so với các làng khác, nhất là về tính cách con người, về kinh tế - xã hội, nên thường được gọi là "dân đầu tổng", dân các làng trong tổng thường phải "kiềng nể". Các vấn đề nổi cộm trong một tổng thường xuất phát từ "dân đầu tổng" mà ra.

- Trên bình diện cộng đồng, các làng luôn huy động "sức mạnh cả làng" vào việc khiếu kiện đất đai, có quy ước, thoả ước để bảo vệ và bảo đảm quyền lợi cho những người tham gia khiếu kiện, làm cho tranh chấp càng diễn ra quyết liệt. Trong trường hợp đang bàn, làng Kha còn huy động cả những người làng đang làm quan ở các nơi, thậm chí cả người đã đỗ tiến sĩ tham kiện, thậm chí đứng đầu đơn kiện, nhằm "tiếp thêm" sức mạnh và "khí thế" cho dân làng, song cũng chính vì thế, làm cho tính chất gay gắt, quyết liệt của vụ kiện tăng lên. Làng còn lập ra thỏa ước đấu tranh, tạo ra một "cơ chế" để những người tham gia khiếu kiện, đấu tranh được "yên tâm" bảo đảm quyền lợi các mặt.

Ba là, việc giải quyết các tranh chấp đất đai giữa các cộng đồng dân cư luôn phụ thuộc vào quan điểm, thái độ của đội ngũ quan lại các cấp, nhất là quan lại trông coi pháp luật, vào đội ngũ chức viên cấp xã, vào dân trí, dân luật. Trong trường hợp đang bàn, các quan phủ và quan Khâm sai triều đình có thái độ khách quan, giải quyết nhanh gọn vụ việc; trong khi các quan huyện và quan Thừa ty trấn Kinh Bắc lại có thái độ ngược lại. "Vụ án" cũng cho thấy, việc sớm nắm bắt những mâu thuẫn, tranh chấp đất đai giữa các cộng đồng cư dân để kịp thời giải quyết ổn thỏa có một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định tình hình địa phương.   

Từ vụ án tranh chấp khu đất chợ kéo dài 45 năm, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc giải quyết các tranh chấp đất đai giữa các cộng đồng cư dân, các thành phần kinh tế trong xã hội ta hiện nay./.

                                                            Thạch Thiết Hà