Giữa đường thấy chuyện oan sầu chẳng dung

02/05/2018 | 10:22 AM

Xem với cỡ chữ

Trần Nhân Tông (1258 - 1308) là bậc vua tài và hiền của nhà Trần, trị vì ngôi báu 14 năm, từ năm Kỷ Mão, 1279 đến năm Quý Tỵ, 1293; ở ngôi thượng hoàng 6 năm, đến năm Kỷ Hợi, 1299), ông xuất gia, lên núi Yên Tử (nay thuộc thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) tu hạnh, lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Ông có nhiều công lao lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên cuối thế kỷ XIII (lần thứ hai, năm Ất Dậu - 1285 và lần thứ ba, từ cuối năm Đinh Hợi đến tháng Ba năm Mậu Tý (từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 - 1288). Sử cũ ghi lại, ông là người “nhân từ, hòa nhã, cố kết lòng dân”, cũng rất nghiêm khắc với quan lại. Điều ấy được thể hiện qua câu chuyện dưới đây.

Vào khoảng tháng Mười năm Canh Thìn, niên hiệu Thiệu Bảo (tháng 11 - 1280), Đỗ Thiên Thư là em ruột Chi hậu cục thủ (quan hầu cận vua, giữ việc truyền lệnh và dẫn người vào cung vua) Đỗ Khắc Chung đã cậy thế anh trai mình tranh kiện với người khác. Cả tình và lý, Đỗ Thiên Thư đều trái, nên các quan đều xử đúng cho người kia. Tuy nhiên, án xử đã lâu mà không thi hành được, vì các quan thi hành án né tránh vì uy quyền của Đỗ Khắc Chung.

Bị thiệt quyền lợi và bị oan ức, người dân kia tìm cách đón xa giá của Vua Trần Nhân Tông ở giữa đường để kêu oan. Nhân Tông thấy người chặn xa giá liền hỏi quan xử kiện đi cùng. Vị quan đó trả lời:“Án đã xử rồi, nhưng hình quan (quan trông coi việc xử án) không chịu chuẩn định”. Vua Nhân Tông nghe vậy liền bảo các quan: “Đó chẳng qua là do các ngươi sợ Khắc Chung mà né tránh thôi”. Rồi Vua sai ngay Trần Hùng Thao là Chánh chưởng Nội thư hỏa (như thư ký riêng của vua), kiêm luôn chức Kiểm pháp quan (quan kiểm tra, giám sát pháp luật) thẩm định lại, thì thấy Đỗ Thiên Thư trái thật, bèn xử thắng cho người dân kia.

Nguồn: Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004, tập I, trang 495.

Lời bàn

Câu chuyện trên lộ ra hai điểm bất thường của đời sống xã hội thời Trần, tại Kinh đô Thăng Long.

Một là, một người dân dám chặn xa giá của vua để thỉnh đạt nỗi oan ức của mình. Chắc chắn đây là nỗi oan ức rất lớn mà vài chữ “người kia đón xa giá để kêu” trong sử cũ không thể phản ánh rõ và toàn bộ tình tiết.

Hai là, vua bị người dân chặn xa giá, sau đó phải đích thân phán xử lời thỉnh cầu của dân về nỗi oan ức. Cả hai việc này lẽ ra đều không đáng có, vì làm mất sự tôn nghiêm của nghi thức hành chính, ảnh hưởng đến công việc của vua, bởi theo lẽ thường, vua là người đứng đầu một chính thể, một đất nước, phải xử lý các vấn đề của “quốc gia đại sự” hay “quốc gia trọng sự”, liên quan đến quốc kế dân sinh, chứ không thể phải trực tiếp giải quyết việc của cá nhân, của thần dân.

Tuy nhiên, câu chuyện trên đặt ra bốn vấn đề về phương diện pháp luật.

Một là, một người dân bình thường dám “ngang ngửa” kiện lại em ruột của một vị quan hầu cận vua, chứng tỏ người đó có đủ bằng chứng, lý lẽ để khiếu kiện, thể hiện được bản lĩnh của mình khi phải “đương đầu” với pháp đình phong kiến mà thông thường, các quan chức có hướng bảo vệ nhau, dẫn đến bao che cho nhau, thậm chí có thể đổi trắng thay đen, làm lệch cán cân công lý và trong những trường hợp đó, sự thua thiệt luôn thuộc về những người dân, nhất là những người “thấp cổ bé họng”, không hiểu luật hay nắm hết luật, ít giao tiếp xã hội; hoặc hiểu luật nhưng hoàn toàn “yếu thế” trước các vị quan tòa “cầm cân nảy mực” có đầy đủ “quyền sinh quyền sát”, dễ thiên lệch cho các vị quan trong xử kiện.

Tuy nhiên, điều thứ hai, các quan pháp luật đời Vua Trần Nhân Tông đã khá công minh trong xét kiện, xử thắng cho người dân kia, không hề có ý nể, sợ uy thế của  Đỗ Khắc Chung là hầu cận của vua.

Song, điều thứ ba, dù người dân kia đã thắng kiện nhờ sự công tâm của các quan xét án, việc thi hành án để đảm bảo quyền lợi cho người thắng kiện lại vấp phải một rào cản khác là các quan thi hành án lại nể, sợ uy thế của Đỗ Khắc Chung.

Trong tình hình đó, cực chẳng đã, người dân kia đã liều mình chặn xa giá của vua để được thấu tỏ nỗi oan. Điều này lại một lần nữa cho thấy bản lĩnh của người đó, bởi ai cũng biết rằng, ngang nhiên chặn xa giá của vua, dù bất kỳ vì lý do gì cũng dễ bị khép vào tội “khi quân”, “bất kính”, nếu không phải chịu án chết thì cũng “rũ ngục tù”. 

Và, điều thứ tư, Vua Trần Nhân Tông chẳng những không bắt tội người dân kia, mà còn dừng xa giá để hỏi rõ sự tình. Khi nghe các quan tâu lại, ông đã “bắt” được đúng “bệnh” là do các quan thi hành án nể và sợ Đỗ Khắc Chung.  Rồi, giữa đường, Vua sai các quan thẩm định lại vụ án và thấy rõ Đỗ Thiên Thư chẳng đủ lý, đủ tình, nên đã xử thắng cho người dân, bắt các quan phải thi hành án. Ở đây, người đứng đầu triều đình, đất nước - Vua Trần Nhân Tông đã đứng về phía quyền lợi của người dân, chỉ ra cái sai của quan trông coi pháp luật.

Đây là sự kiện duy nhất được chép trong chính sử, một vị vua, người đứng đầu một chính thể, một đất nước giữa đường thấy dân bị oan ức chặn xa giá để kêu oan, đã lập tức xem xét, tìm cách “giải oan” cho dân. Nhà Sử học Ngô Sĩ Liên cho rằng, với việc làm này, Trần Nhân Tông thể hiện được lòng trung hậu của mình, nhờ đó mà “dân tình được thấu lên trên, án kiện đọng lại được xử ngay”.

Câu chuyện cho hay, để dân không bị oan ức thì luật phải thông suốt, công minh, từ việc tiếp nhận khiếu kiện, đến xét án và thi hành án. Tắc một khâu nào, người dân phải chịu thiệt hại, oan ức, gây bức xúc trong xã hội; từ đó dễ dẫn đến khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện đông người và vượt cấp, gây khó cho các cơ quan bên trên.

Để có sự thông suốt này, đòi hỏi phải sớm giải quyết dứt điểm các vấn đề phát sinh ngay từ đầu và từ dưới cơ sở, không để ứ đọng dẫn đến phát sinh các hệ lụy để phải “đá” vụ việc lên các cơ quan bên trên. Để làm được điều này, cần có thái độ kiên quyết, sự công minh của cơ quan và cá nhân chịu trách nhiệm, trong đó, gánh trọng trách là các quan pháp luật, trong xét xử và thi hành án.

Về lý thuyết, pháp luật mang tính bình đẳng, tuy nhiên, thực tế của việc thi hành luật (cả trong xét xử cũng như trong thi hành án) lại cho thấy, pháp luật lại thường bảo vệ những người thuộc tầng lớp trên, có thế lực. Để pháp luật thật sự bình đẳng theo đúng ý nghĩa của nó, trước hết cần có sự công minh, giữ đúng “cán cân công lý” của những người nắm pháp luật, sau đó đòi hỏi việc nắm chắc các nguyên tắc, kiến thức về luật, cùng tính sâu sát, cụ thể, thái độ thận trọng và sự kiên quyết của họ.

Câu chuyện là bài học về việc bảo đảm tính nguyên tắc trong xét xử và thi hành án, về việc giải quyết những oan ức của người dân trước những sai sót của các cơ quan, cá nhân trông coi pháp luật, vẫn còn nguyên giá trị với xã hội ta ngày nay./.

          Thạch Thiết Hà