Để Kinh sư là gốc của bốn phương

01/03/2017 | 15:23 PM

Xem với cỡ chữ

Quách Đình Bảo (1440 - ?), người làng Phúc Khê, huyện Thanh Quan, nay là thôn Phúc Khê Tiền, xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tương truyền, tổ tiên ông trả lại vàng cho người đánh rơi nên được hậu đãi, con cháu có nhiều người thành đạt. Quách Đình Bảo đỗ thám hoa khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận, đời Vua Lê Thánh Tông (năm 1463), làm quan đến Thượng thư bộ Lại, kiêm Đô Ngự sử. Năm đầu niên hiệu Hồng Đức (Canh Dần, 1470), ông được cử đi sứ sang nhà Minh. Ông còn được Vua Lê Thánh Tông giao trông nom toàn bộ công việc dựng loạt bia tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, ghi danh các tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo (năm 1442) đến khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức (năm 1484), cùng Thân Nhân Trung soạn bộ Thiên Nam dư hạ tập. Ông là người sâu sát với thực tế. Điều ấy thể hiện qua câu chuyện dưới đây.

Tháng bảy năm Tân Sửu, niên hiệu Hồng Đức (khoảng tháng 8 năm 1481), trong triều đình diễn ra cuộc bàn luận khá căng thẳng: Một số quan phụ trách Kinh thành Thăng Long (khi đó gọi là phủ Phụng Thiên) tự tiện ra lệnh đuổi về quê tất cả những người dân từ các nơi đến trú ngụ ở phố phường buôn bán. Việc được tâu lên Vua Thánh Tông và Vua đưa sự việc ra bàn trước triều thần. Khá đông quan lại trong triều tán đồng chủ trương trên của các quan phủ Phụng Thiên. Riêng Thám hoa Quách Đình Bảo khi đó là Phó Đô Ngự sử (chức quan thứ hai của cơ quan thanh tra tối cao triều đình), kiêm Tả xuân phường Tả Trung doãn (chức quan ở cung Thái tử, có nhiệm vụ bảo ban Thái tử) lại có cách nhìn khác. Ông tâu với Vua Lê Thánh Tông rằng:

"Kinh sư là gốc của bốn phương, tiền của trao đổi buôn bán tất phải lưu thông cho đủ dùng, không nên để thiếu thốn. Trước đây, dân cư phủ Phụng Thiên, trừ những người quê quán ở phủ đó, gián hoặc có người quê không phải ở đó, nhưng có cửa hiệu, thuế ngạch và nộp thuế, chịu sai dịch dưới bản phường. Nay quan phủ Phụng Thiên lại không hỏi xem dân tạp cư ở đó có cửa hiệu, thuế ngạch hay không, đuổi hết cả về nguyên quán, e rằng như thế thì nơi kinh sư sẽ buôn bán thưa thớt, không còn sầm uất phồn thịnh nữa, không những người làm nghề buôn bán sẽ thất nghiệp, mà chợ búa e sẽ trống rỗng, ngạch thuế sẽ có thể thiếu hụt, có phần không tiện. Vì thế tâu xin: Ngoài những kẻ vô loài tạp cư nên đuổi đi, còn những người nguyên có hàng chợ, cửa hiệu trước đây đã biên vào thuế ngạch thì hãy cho được cư trú để buôn bán sinh nhai, cho bản phường nộp thuế theo lệ cũ".

Vua Lê Thánh Tông đã y theo lời của Quách Đình Bảo.

Sự kiện trên đây cho thấy, Quách Đinh Bảo là người rất am hiểu Thăng Long, từ vị thế chính trị, kinh tế, đến các đặc điểm về dân cư, kinh tế, xã hội của Kinh đô. Ông khẳng định: "Kinh sư là gốc của bốn phương", trước hết về phương diện chính trị: Là nơi đóng Trung ương, triều đình, nhu cầu hàng tiêu dùng của vua quan, các tầng lớp cư dân rất lớn. Từ vị thế chính trị, Thăng Long trở thành trung tâm kinh tế của các nước. Vì thế, "tiền của trao đổi buôn bán tất phải lưu thông cho đủ dùng, không nên để thiếu thốn". Trên thực tế, từ trước thế kỷ XI, thành Đại La đã là đô thị sản xuất và buôn bán sầm uất. Sau khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long (năm Canh Tuất, 1010), kinh tế Thăng Long càng có điều kiện phát triển. Đặc điểm nổi bật về kinh tế của đô thị - kinh đô này là có sự kết hợp chặt chẽ giữa làm nghề thủ công và buôn bán, sự gắn bó giữa phố và chợ. Hầu hết các gia đình đều có cửa hàng hoặc cửa hiệu, kết hợp làm hàng với bán hàng, từ đó hình thành hệ thống các phường với các phố nghề, phố chợ. Mỗi phố hoặc phường này gắn với một hoặc hai nghề, tạo ra một sản phẩm riêng. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi (soạn năm 1435) ghi chép khá tỉ mỉ về các nghề thủ công ở các phường, như phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ đài, mâm, võng, gấm trìu và dù lọng, phường Thụy Chương và phường Nghi Tàm dệt vải nhỏ và lụa; phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Tả Nhất làm quạt… Hệ thống phố - chợ đáp ứng được nhu cầu hàng tiêu dùng của vua quan, các tầng lớp cư dân và cả bán ra nước ngoài.

Đặc điểm kinh tế trên đây kéo theo sự đa tạp về thành phần dân cư của Thăng Long. Ngoài cư dân "gốc" có hoạt động mưu sinh rất đa dạng, có cửa  hàng cửa hiệu, song cũng có không ít người buôn bán tự do ngoài chợ, trên phố, Thăng Long còn thu nhận một bộ phận đông người từ các làng quê ở bốn đạo bao quanh (sau này gọi là trấn) lên lập nghiệp, nên gọi là "Thăng Long tứ trấn". Một bộ phận đông các hộ gia đình sau khi ổn định được công việc đã kéo theo họ hàng, người làng lên Kinh đô làm ăn. Số đông những người "nhập cư" này chưa có nơi làm nghề, buôn bán ổn định, phải mưu sinh ở các chợ, các con phố. Dù hoạt động mưu sinh theo hình thức nào thì họ đã tạo ra một lượng hàng hóa phong phú, bảo đảm đời sống gia đình và đóng góp phần thuế vào nguồn thu của nhà nước; góp phần tạo cho Thăng Long sự sầm uất bậc nhất về kinh tế của cả nước, được dân gian đúc kết "Thứ nhất Kinh kỳ…".

Thành phần dân cư đa tạp, hoạt động mưu sinh đa dạng tạo ra sự khác biệt và không đồng bộ về giờ giấc sinh hoạt, làm việc, từ đó ảnh hưởng đến trật tự an ninh, đến quản lý xã hội. Ngoài ra, như ở bất kỳ địa phương nào, Thăng Long cũng có hiện tượng bên cạnh những người làm ăn chăm chỉ, lương thiện, cũng không ít kẻ lười biếng, du thủ du thực, "kiếm ăn" bằng trộm cắp, cướp giật, lừa đảo ở chợ, ở phố phường; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, đến quản lý xã hội. Rất nhiều trường hợp, những kẻ xấu trà trộn trong những người "tạp cư" làm ăn, buôn bán ở chợ, đường phố.

Vì lý do trên đây, các quan phủ Phụng Thiên đã đề nghị "đuổi hết cả dân tạp cư về nguyên quán". Họ đã quy ngọn nguồn của việc mất trật tự trị an ở Thăng Long từ những người ở các địa phương về làm nghề, buôn bán. Quách Đình Bảo đã thấy được tác hại vô cùng lớn lao của quyết định tả khuynh đó, vì nếu đuổi tất cả dân có nguồn gốc không phải Thăng Long về quê thì buôn bán sẽ thưa thớt, người làm nghề buôn bán sẽ thất nghiệp, chợ búa sẽ trống vắng, nguồn thuế sẽ thiếu hụt; cho nên phải để họ ở lại Thăng Long làm ăn, chỉ đuổi "những kẻ tạp cư vô loài", sống bằng những "nghề" bất chính. Quách Đình Bảo thấy rõ Thăng Long là nơi đô hội, nên bên cạnh các mặt tốt, tích cực, cũng không ít những hiện tượng xấu, tiêu cực; quản lý xã hội ở Thăng Long không thể chỉ là ngăn cản, cấm đoán. Người quản lý phải chấp nhận những hiện tượng đó, xem xét thận trọng ngọn nguồn của từng hiện tượng để đề ra giải pháp sát hợp.

Câu chuyện trên đây cho thấy, Quách Đình Bảo có cái nhìn rất khách quan, thận trọng và khá cởi mở trong chính sách tự do cư trú để phát triển kinh tế, về mối quan hệ giữa trật tự an ninh với việc bảo đảm cho buôn bán phát triển, tránh được những biện pháp tả khuynh, ảnh hưởng tới việc làm ăn, buôn bán của nhân dân. Đặt điều này trong bối cảnh thời Vua Lê Thánh Tông - ông Vua nổi tiếng sùng Nho, trọng nông ức thương mới thấy hết tầm nhìn của Quách Đình Bảo.

Câu chuyện cũng cho thấy, quản lý đô thị, nhất là các đô thị lớn, đô thị là kinh đô - thủ đô rất phức tạp, đòi hỏi người quản lý phải hết sức thận trọng khi đưa ra bất kỳ một quyết định nào, nhất là quyết định liên quan đến đời sống của các tầng lớp cư dân, không thể duy ý chí, theo ý muốn chủ quan của mình. Chuyện xảy ra đã hơn 530 năm, nhưng vẫn có ý nghĩa thời sự với việc quản lý đô thị, nhất là các đô thị lớn, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước hay các vùng./.

Thạch Thiết Hà