Đánh trượng để thanh liêm

26/03/2018 | 10:25 AM

Xem với cỡ chữ

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn niên hiệu Trùng Hưng (khoảng tháng 2 - 1292), Vua Trần Nhân Tông lấy Phí Mạnh làm An phủ sứ Diễn Châu(1). Được một thời gian, Vua được tin Phí Mạnh trong thời gian nhậm trị đã phạm tội hà lạm, bèn triệu viên quan này về Kinh đô Thăng Long và đánh trượng trước triều thần. Sau đó, ông vẫn cho Phí Mạnh về nhậm trị, giữ chức cũ tại Diễn Châu. Một thời gian sau, Vua nhận được tin dân địa phương hết lời ca ngợi Phí Mạnh là vị quan thanh liêm, chính trực; người vùng ấy vì thế có câu rằng “Diễn Châu An phủ thanh như thủy” (An phủ sứ Diễn Châu lòng trong như nước). Vua Trần Nhân Tông rất vui vì “đắc sách” “đánh trượng để quan tham tang trở lại thanh liêm” của mình.

Nguồn: Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004, tập 1, trang 531.

Lời bàn

Hiện tượng quan lại lợi dụng chức quyền để vun vén quyền lợi khá phổ biến dưới thời phong kiến ở Việt Nam và cũng là tình trạng chung của một bộ phận những người nắm chức quyền ở xã hội có nhà nước. Có vun vén nhỏ, lượng tiền và của cải thu lợi “khiêm tốn”; song không ít vị quan, người có quyền chức tìm mọi cách để “rút ruột” một lượng lớn tiền bạc và tài sản của công, vốn do dân nhọc nhằn đóng thuế mà có. Dù ít hay nhiều thì việc bòn vét công quỹ đều là hành vi trái đạo đức, vi phạm pháp luật, bị dư luận xã hội lên án và pháp luật khép vào tội “tham nhũng”, “tham tang” để xử lý. Tuy nhiên, cách xử lý hành vi tham tang lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Quy định xét xử và hình phạt của pháp luật ở từng thời kỳ đối với tội phạm đó, vào tình tiết cụ thể của từng vụ việc - vụ án, nhất là mức độ tham nhũng. Việc xử lý còn phụ thuộc vào quan điểm, phương cách của cơ quan xét xử, nhất là của người đứng đầu cơ quan đó. Việc xử lý các vụ tham tang và người tham tang có tác động lớn đến tính hiệu quả hay không hiệu quả trong ngăn chặn sự tha hóa của đội ngũ những người có quyền chức, ngăn chặn tình trạng vi phạm và tái phạm, trong việc tuyên truyền và giáo dục pháp luật chống tham nhũng đến các giai tầng xã hội, bảo vệ được tài sản của nhà nước, giữ vững kỷ cương phép nước, tạo lòng tin của nhân dân đối với nhà nước, với thể chế.

Trong trường hợp đang bàn, chưa rõ Phí Mạnh - viên quan đứng đầu vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh hiện nay tham tang những gì và ở mức độ nào, gây thiệt hai bao nhiêu, nhưng đã bị Vua Trần Nhân Tông kiên quyết xử lý. Điều này thể hiện quan điểm và thái độ “Nói không với tham nhũng” của ông. Song, cách xử lý quan lại vi phạm của Vua ở đây có hai điều khác biệt, thậm chí có thể coi là “độc đáo”.

Một là, đưa viên quan phạm luật (Phí Mạnh) về Kinh đô Thăng Long và đánh trượng trước triều thần. Việc này không chỉ để cá nhân Phí Mạnh “đòn đau nhớ đời” và “mất mặt” trước bá quan văn võ trong triều, mà còn để trăm quan thấy được lỗi của Phí Mạnh, từ “tấm gương” Phí Mạnh, các quan sẽ hiểu rằng, bất kỳ ai phạm luật thì cũng sẽ bị xử như thế. Tác dụng giáo dục và cả răn đe ở đây là rất lớn. Đó là chưa kể, việc Phí Mạnh bị đánh đòn công khai trước triều thần sẽ lan truyền ra ngoài, tới dân chúng ở Kinh đô và các địa phương; tạo ra những tấm “bia miệng” có sức lan tỏa rất rộng, rất lâu, tác dụng giáo dục và răn đe càng lớn hơn.

Hai là, sau khi xử Phí Mạnh về tội tham tang, Trần Nhân Tông không cách chức hay điều chuyển vị quan này đi nơi khác, mà lại cho giữ nguyên chức vụ cũ, hơn nữa, lại cho về nhậm trị tại địa phương mà viên quan đã từng phạm luật. Thâm ý của Vua ở đây là “nhắn nhủ” và cảnh bảo Phí Mạnh rằng, chính tại nơi này, ngươi đã mắc tội tham tang và bị xử lý, song chưa đến nỗi mất chức; vậy phải sửa đi để trở thành vị quan tốt của triều đình và của dân. Trần Nhân Tông cũng để Phí Mạnh nghĩ, ngẫm và “ngấm” rằng, “tiếng tăm” về “thành tích bất hảo” của ngươi đã “nổi” trên mảnh đất này, dân đã biết và còn đang giám sát hành trạng của ngươi, hãy “liệu đường” mà xử sự. 

Kiên quyết và nghiêm khắc xử lý quan phạm tội bằng việc đánh trượng ngay giữa triều, sau đó lại cho giữ chức cũ, ở nơi đang làm quan, để vị quan đó “đòn đau nhớ đời” mà sửa lỗi tham tang, sau đó trở thành vị quan nổi tiếng thanh liêm, được nhân dân ca ngợi, có tác dụng rất lớn trong giáo dục, răn đe các quan. Phương châm xử phạt của Trần Nhân Tông là “một tên trúng nhiều đích”. Đây chắc chắn là cách xử phạt rất độc đáo nhưng có hiệu quả và cũng rất hy hữu trong lịch sử nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam. Đương nhiên, ở đây cũng cần thấy được tính cầu thị, cầu tiến của quan An phủ sứ Phí Mạnh. Ông thấy rõ lỗi, tội của mình và ân điển của vua, nên quyết tâm sửa lỗi, từ vị quan tham tang trở thành vị quan thanh liêm, được dân yêu mến.

Câu chuyện để lại nhiều bài học sâu sắc: Trước hết là bài học về tư tưởng chống tham nhũng của Vua Trần Nhân Tông nói riêng và triều đình nhà Trần nói chung. Thời Trần, tích lũy xã hội chưa nhiều, tiền của do dân đóng góp cho nhà nước chưa lớn; song đã có một bộ phận quan lại tha hóa, biến chất, lợi dụng quyền thế để trục lợi, tham nhũng, thậm chí có người còn công khai “quyền được tham nhũng” như Trần Khánh Dư, Hồ Tông Thốc từng “nổi danh” thời bấy giờ và được sử sách ghi lại(2). Phí Mạnh cũng được “liệt” vào trong số các vị quan này. Trong tình hình đó, nhà Trần đã kiên quyết ngăn chặn và xử lý các vụ việc, các quan lại tham nhũng.

Bài học thứ hai là xử lý ngay khi các vụ việc được phát hiện và trong xử lý quan lại phạm tội tham nhũng, cần kết hợp nhiều biện pháp, có cương quyết và mềm dẻo, “có lý có tình” như cách làm của Vua Trần Nhân Tông.

Bài học thứ ba là những người sai phạm khi mắc tội và bị xử lý phải có tinh thần cầu thị, quyết tâm sửa lỗi, không thể đổ lỗi cho khách quan, cho hoàn cảnh, cho người khác, sau đó tìm cách chạy tội. Nếu dũng cảm nhận tội, chắc chắn sẽ được pháp luật chiếu cố khoan hồng, vì “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại”; nếu cầu thị sửa lỗi sẽ trở thành người tốt, vị quan tốt và cán bộ tốt.

Câu chuyện và những bài học trên đây không hề cũ với ngày nay, khi tham nhũng đã trở thành quốc nạn nghiêm trọng, với bao kẻ tha hóa, “có đường nét”, như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh…; đe dọa đến nguồn lực đất nước, đến lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Nếu không kiên quyết tấn công, diệt trừ, quốc nạn đó sẽ lan nhanh như một bệnh dịch, vận mệnh đất nước, chế độ không biết tới đâu.

Rất mừng là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đang trở thành phong trào, xu thế của cả xã hội mà người đi đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, với lời nói đầy ẩn ý, nhưng có sức khích lệ, cổ vũ rất lớn: “Lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy” và “Lò đã nóng lên, không ai có thể đứng ngoài cuộc'”./

-------------------------

(1)  An phủ sứ là quan đứng đầu một lộ thời Trần (đơn vị hành chính cao nhất ở địa phương). Diễn Châu thời Trần gồm địa phận hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh hiện nay.

(2) Trần Khánh Dư từng tuyên bố “ Dân là vịt, tướng là chim ưng, lấy vịt mà nuôi chim ưng thì có gì là lạ”. Còn Hồ Tông Thốc thì “Một con chịu ơn vua, cả nhà ăn lộc trời”.

Thạch Thiết Hà