Cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cách mạng Việt Nam

18/05/2020 | 08:18 AM

Xem với cỡ chữ

Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020), với lòng kính yêu vô hạn đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, xin điểm lại những dấu ấn của Người trong những thời khắc lịch sử quan trọng của dân tộc, qua đó giúp chúng ta hiểu rõ cống hiến to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

1- Nguyễn Ái Quốc - người Việt Nam yêu nước đầu tiên tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc

Sinh ra trong một gia đình giàu lòng yêu nước và nhân ái, lớn lên trong cảnh mất nước, đồng bào bị đọa đày đau khổ, những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều cuộc khởi nghĩa, đấu tranh anh dũng để giành lại độc lập, thống nhất Tổ quốc đều lần lượt bị thất bại. Phong trào cứu nước của nhân dân ta đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối. Chính lúc đó, bằng thiên tài, trí tuệ và sự khảo sát thực tiễn cách mạng thế giới, Nguyễn Tất Thành(1) đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của dân tộc. Vượt qua hạn chế của các nhà yêu nước và chí sĩ tiền bối, Nguyễn Tất Thành đã sớm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Ngưỡng mộ cuộc cách mạng vĩ đại đó, kính phục V.I.Lênin, Người hoàn toàn tin theo V.I.Lênin và đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười.

 Tháng 6-1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp gửi đến Hội nghị Vécxây bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Tháng 7-1920, Người được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin”. Luận cương của V.I.Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường đấu tranh giành độc lập tự do thật sự cho dân tộc mà trải qua 9 năm tìm kiếm (1911-1920) Người mới bắt gặp. Lý luận của V.I.Lênin và lập trường đúng đắn của Quốc tế Cộng sản là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc ủng hộ việc gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp ở Thành phố Tua (Pháp) tháng 12-1920. Đây là sự kiện Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, người đầu tiên tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc - con đường cách mạng vô sản.

2. Truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua: Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã đào tạo cho cách mạng Việt Nam một thế hệ cán bộ cách mạng được vũ trang bằng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam đã dẫn tới sự ra đời của ba tổ chức cộng sản vào cuối năm 1929, đầu năm 1930. Tuy nhiên, cuối năm 1929 đã xảy ra tình trạng hai tổ chức: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng tranh chấp ảnh hưởng trong quần chúng, bài xích lẫn nhau và mỗi tổ chức đều muốn đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản. Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng (Trung Quốc) triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất ở Việt Nam. Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị thông qua các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đó là các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đánh giá cống hiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với việc thành lập Đảng, trong tác phẩm “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương”, được công bố năm 1933, tác giả Hồng Thế Công (Hà Huy Tập) viết: “Công lao to lớn của đồng chí là đã tập hợp được các lực lượng cộng sản phân tán lại thành một khối, nhờ đó mà đã đưa lại cho những người lao động Đông Dương một đội tiền phong chiến đấu và kiên quyết cách mạng”(2).

3- Lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa tháng Tám, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Vừa mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương phát động quần chúng đấu tranh đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống, chống địch khủng bố… Trong Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi toàn thể những người bị áp bức, bóc lột ủng hộ Đảng, đi theo Đảng, gia nhập Đảng nhằm đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến… làm cho nước An Nam hoàn toàn độc lập! Thực hiện chủ trương của Đảng và hưởng ứng Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, một phong trào cách mạng mới, mạnh mẽ đã dâng lên thành cao trào cách mạng 1930-1931; phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939) làm tiền đề để tiến đến cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945).

Trước tình hình phong trào cách mạng ở trong nước dâng cao, ngày 28-1-1941, sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Tại Khuổi Nậm (Cao Bằng), lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5-1941). Hội nghị xác định cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh. Tháng 5-1945, với tên gọi mới - Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, Người chọn Tân Trào làm căn cứ để chỉ đạo cách mạng cả nước. Mặc dù ốm nặng, nhưng mỗi khi tỉnh lại, Người lại hỏi tình hình và dặn dò công việc. Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập(3). Tháng 8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang), quyết định lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương. Hội nghị cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do đồng chí Trường Chinh phụ trách. Đêm 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa! Ngày 16-8-1945, tại Tân Trào, Đại hội quốc dân họp dưới quyền chủ toạ của Hồ Chí Minh. Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và 10 chính sách của Việt Minh. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay sau Đại hội quốc dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta!”(4). Từ ngày 14 đến 28-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề vùng dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 2-9-1945, trong cuộc mít tinh lớn tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với nhân dân cả nước và toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do.

4- Lãnh đạo kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước

Sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, cả dân tộc phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thách thức: Tài chính khánh kiệt, giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm(5); ở phía Nam vĩ tuyến 16, quân đội Anh đã kéo vào từ ngày 6-9-1945. Vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”. Ngày 3-9-1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời để đề ra  những nhiệm vụ cấp bách như: Giải quyết nạn đói, nạn dốt, tổ chức tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội và đặc biệt là chống giặc ngoại xâm và bài trừ nội phản. Xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội mới do nhân dân làm chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải có trách nhiệm chăm lo cho nhân dân, Người nhấn mạnh: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(6).

Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử diễn ra khắp cả nước. Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trúng cử với số phiếu cao nhất 98,4%. Ngày 2-3-1946, tại phiên họp đầu tiên, Quốc hội khóa I đã chỉ định Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Ở những thời điểm then chốt của lịch sử: Thù trong, giặc ngoài, đất nước bị đế quốc bao vây, trí tuệ và dũng khí của Người thể hiện rất quyết đoán, Người nói: “Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy... Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là phương pháp đau đớn để cứu vãn tình thế”(7). Đó là việc thực hiện hai sách lược: “Hòa với Tưởng” để tập trung lực lượng chống Pháp ở Nam Bộ và “Hòa với Pháp” để đuổi quân Tưởng về nước, tránh được tình thế cùng một lúc phải chống nhiều kẻ thù và bảo toàn được thực lực. Chính nhờ những chủ trương sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cách mạng Việt Nam đã vượt qua được những khó khăn, nguy hiểm trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Sau nhiều cố gắng nỗ lực hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh để giải quyết hòa bình ở Việt Nam không thành, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, cùng với “Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Đảng”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp giành thắng lợi trong các chiến dịch: Việt Bắc thu đông 1947; Biên giới thu đông 1950, trong chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch; tiếp đó là các chiến dịch Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952) và Thượng Lào (1953). Đặc biệt thắng lợi của quân và dân ta trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ ngày 21-7-1954. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi.

Sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc cho cách mạng cả nước. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Từ miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng ngày đêm tập trung sức lực, trí tuệ, chỉ đạo cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Người chú trọng đặc biệt việc tổ chức chi viện cho cách mạng miền Nam. Người thường nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Xứ ủy Nam Bộ rồi Trung ương Cục miền Nam, quân và dân miền Nam đã chiến đấu dũng cảm, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ(8). Trong Thư chúc mừng Xuân 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào…”. Đó cũng chính là điều mà Người nói rõ thêm về chiến lược và phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng ở miền Nam.

Giữa lúc nhân dân miền Bắc đang giành thắng lợi trên các mặt trận, cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam còn đang diễn ra quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Vĩnh biệt chúng ta, Người đã để lại bản “Di chúc” lịch sử, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc và nhân loại. Di chúc của Người đã khẳng định niềm tin tất thắng: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”(9). Sau Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh (sáng 9-9-1969), ngày 29-9-1969, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 173/CT-TW về đợt sinh hoạt chính trị “Học tập và làm theo Di chúc của Hồ Chủ tịch”. Đến ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 06-CT/TW về mở cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tiếp đến là Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14-5-2011của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ngày 15-5-2016, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trải qua gần 35 năm. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thật sự trở thành nguồn sáng, nguồn sức mạnh và động lực để toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Chúng ta vô cùng tự hào vì mỗi bước đi lên của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với công lao - sự nghiệp, tư tưởng - đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại, Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Công lao, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sẽ luôn sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam./.

-------------------------

1- Khi đi học, Nguyễn Sinh Cung đổi tên là Nguyễn Tất Thành. Người còn có nhiều tên gọi khác, mà tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh được dùng nhiều nhất. Ngày 5-6-1911 Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

2- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999, t.4, tr.409.

3- Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1994, tr. 196.

4- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002, t.3, tr.554.

5- Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9-1945, 20 vạn quân của Trung Hoa dân quốc đã tràn vào nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc.

6- Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002, t.7, tr.572.

7- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002, t.6, tr.161.

8- Chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “chiến tranh cục bộ” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

9- Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002, t.12, tr. 511.

PGS, TS Nguyễn Thị Thanh