Thể chế hóa khái niệm “Dân kiểm tra” trong một phương châm của Đảng

23/02/2018 | 11:06 AM

Xem với cỡ chữ

Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã là câu nói đã rất quen thuộc đối với nhiều người trong chúng ta mỗi lần nhắc đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thế nhưng không phải ai cũng nhớ rõ câu nói này xuất hiện từ bao giờ, trong hoàn cảnh nào và nó đã phát huy tác dụng trong thực tế ra sao, đến nay có khái niệm, nội dung nào chưa được cụ thể, thể chế hóa hoặc còn có những cách hiểu khác nhau?

Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đề ra đường lối đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, mở ra thời kỳ phát triển mới. Mấu chốt của đường lối đổi mới này là xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc về dân: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”; “Đảng không có mục đích nào khác là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân”; “Quần chúng là người làm nên lịch sử”.

Đại hội VI của Đảng đã đề ra cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”, đồng thời khẳng định “Thực hiện có nền nếp khẩu hiệu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Văn kiện Đại hội VI còn viết: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là nền nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình”.

Tuy nhiên, trong một thời gian khá dài, nói chung, khẩu hiệu trên đây vẫn chỉ là khẩu hiệu, khó đi vào cuộc sống bởi vì chưa có cơ chế quy định dân được biết những gì? Dân được bàn việc gì, bàn như thế nào? Dân được làm ra sao? Và dân được kiểm tra ai, kiểm tra gì, kiểm tra ở đâu? Cho đến Đại hội VIII (tháng 6-1996), Đảng ta đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước” (đến đây, ở cụm từ “khẩu hiệu” được thay bằng “phương châm”).

Cách đây tròn 20 năm, tháng 2-1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 30 “Về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, trong đó nêu rõ “thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng thiết thực, gắn liền với lợi ích của mình”. Thực hiện chủ trương này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29, ngày 11-5-1998, sau đó là Nghị định 79/2003 “Về quy chế thực hiện dân chủ ở xã”; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP “Về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”; Nghị định số 07/1998/NĐ-CP “Về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước”.  Sau một thời gian thực hiện, vào năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34 “Về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”; Chính phủ ban hành Nghị định số 87/2007/NĐ-CP “Về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” và một số nghị định cho các loại hình cơ sở khác nữa.

Như vậy, cùng với hình thức dân chủ đại diện, với Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị, sau đó là các nghị định của Chính phủ, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lần đầu tiên, người dân thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Phải mất 12 năm (từ năm 1986 đến năm 1998) thì phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mới thực sự đi vào cuộc sống khi Nhà nước ban hành cơ chế, quy định để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp trong việc được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra.  

Sau 20 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã đạt được những kết quả và tạo ra sự chuyển biến tích cực ở nhiều loại hình cơ sở:

1. Đã từng bước nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, tác phong, nền nếp thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở cơ sở, đã tạo ra một không khí dân chủ cởi mở hơn trong từng cơ quan, đơn vị, cơ sở cũng như trong toàn xã hội.

2. Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở.

3. Góp phần củng cố, nâng cao hiệu quả hoạy động của các tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, nhiều chủ trương, chính sách nhằm mở rộng dân chủ trực tiếp trong xây dựng các tổ chức đảng, chính quyền, hệ thống chính trị ở cơ sở.

Tuy nhiên, cho đến nay, ở nhiều nơi, trong đó có cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, dân chủ vẫn còn hình thức, quần chúng, nhân dân không được biết những vấn đề, nội dung liên quan đến quyền lợi thiết thân của họ. Do vậy, trong Nghị quyết Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục đề ra nhiệm vụ “Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. 

Hiện nay, một trong những vấn đề chưa được nhận thức một cách thống nhất, đồng thời cũng chưa được thể chế hóa và lúng túng khi vận dụng phương châm của Đảng là khái niệm “dân kiểm tra”. Có ý kiến cho rằng, chức năng kiểm tra ở cơ sở thuộc về các cấp ủy, tổ chức đảng. Cũng có ý kiến rằng, người dân khó có thể kiểm tra việc làm của tổ chức, cấp ủy đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội khi không được cấp có thẩm quyền cho phép. Hơn nữa, muốn kiểm tra cần có chuyên môm, nghiệp vụ chứ không phải bất người dân nào cũng có thể kiểm tra. Hơn nữa, hiện nay, các cấp ủy đảng vừa có chức năng kiểm tra, vừa có chức năng giám sát cho nên người dân rất khó kiểm tra. Trong các quy chế, quy định chưa cụ thể hóa người dân, cán bộ, công chức, viên chức được kiểm tra ai, kiểm tra cái gì hoặc có đề ra cũng chỉ là hình thức vì người dân khó có điều kiện và không có thẩm quyền kiểm tra, giám sát nhiều vấn đề, nội dung. Bởi vì nội dung kiểm tra của Đảng thì đã đã được quy định trong Điều lệ Đảng. Về phía chính quyền thì đã có hệ thống cơ quan thanh tra của Chính phủ, thanh tra các cơ quan, đơn vị và thanh tra nhân dân. Giám sát thì chủ yếu dựa vào các cơ quan dân cử (Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân). Đồng thời, trong năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Người dân cũng chỉ thông qua đại diện của mình chứ chưa thể trực tiếp kiểm tra, giám sát được. Những năm qua, thực chất người dân mới chỉ có thể kiểm tra, giám sát những dự án, chương trình đầu tư mà kinh phí do dân đóng góp trên địa bàn cơ sở họ cư trú, trong cộng đồng dân cư. Nhiều chương trình, dự án vốn đầu tư của nước ngoài hoặc của cấp trên ở địa bàn khu dân cư nhưng chính người dân ở đó nhiều khi cũng không được biết, nói gì đến việc kiểm tra, giám sát? Thực chất, ở nhiều nơi, người dân không thể thực hiện được công tác kiểm tra theo phương châm của Đảng. Do vậy, rất cần cụ thể hóa, thể chế hóa “dân kiểm tra” để phát huy vai trò của người dân trong công tác xây dựng Đảng. 

“Dân kiểm tra” là một trong những nội dung rất cần thiết và quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh. Trong các tổ chức đảng có ủy ban kiểm tra các cấp làm công tác kiểm tra, kỷ luật đối với các tổ chức, cấp ủy đảng, với tất cả đảng viên. Trong Điều lệ Đảng đã ghi rõ “Đảng...chịu sự giám sát của nhân dân...”. Do vậy, từ lâu đã có nhiều ý kiến đề nghị thay khái niệm “kiểm tra” bằng khái niệm “giám sát” trong phương châm nói trên. Tuy nhiên, theo Từ điển tiếng Việt thì “Kiểm tra” là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. Còn “Giám sát” là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định hay không”. Như thế quyền giám sát bao gồm cả quyền kiểm tra và rộng hơn cả kiểm tra và quyền giám sát. Tuy nhiên giữa kiểm tra và giám sát có những nội hàm giống nhau và trên thực tế, trong kiểm tra có giám sát, trong giám sát có kiểm tra. Cho nên để tránh nhầm lẫn với công tác kiểm tra của Đảng, có thể gọi là dân kiểm tra - giám sát có lẽ phù hợp hơn?

Có kiểm tra hay giám sát thì công việc này của dân với công tác xây dựng Đảng hiện nay còn nhiều bất cập, nhất là công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên ở khu dân cư. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, nhưng mấu chốt, sâu xa nhất là chưa thể chế hóa, cụ thể hóa vấn đề này thành các quy định mang tính pháp chế bắt buộc. Do vậy, trong khi chờ những quy định cụ thể của Đảng, Nhà nước thì cần có chế tài để người dân kiểm tra, giám sát tài sản, của cải, phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống, quan hệ với quần chúng, nhân dân của đảng viên ở khu dân cư cũng như người nhà của họ. Muốn vậy, cần có quy định chặt chẽ về sự liên hệ thường xuyên của cán bộ, đảng viên đương chức với cấp ủy đảng, chính quyền nơi cư trú. Việc công khai tài sản thu nhập của cán bộ, đảng viên đương chức cũng như gia đình, người thân của họ cũng cần có quy định để dân được biết, được kiểm tra, giám sát. Định kỳ hàng năm hoặc trước khi luân chuyển, đề bạt, cất nhắc cần phải được công khai tự phê bình trước người dân, để người dân góp ý, nhận xét, đánh giá. Việc nhận xét, đánh giá đảng viên “sinh hoạt hai chiều” cũng cần được thực hiện một cách chặt chẽ, công khai, thực chất, tránh hình thức, nể nang, chiếu lệ.

Một trong những phương tiện có thế mạnh mà Đảng cần sử dụng để thực hiện phương châm “dân kiểm tra, giám sát” là các phương tiện thông tin đại chúng, các đường dây tố giác tham nhũng, tiêu cực của cán bộ. Việc tự phê bình và phê bình của các tổ chức, cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, chính sách, pháp luật cần được tái lập vì Đảng ta đã có quy định cụ thể và làm tốt công tác này. Bởi vì, “Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (Hồ Chí Minh).

Phát huy những kinh nghiệm, thành tích trong công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và của các cấp ủy đảng trong thời gian qua vào công tác kiểm tra, giám sát của quần chúng, nhân dân, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ đạt được những mục đích đề ra./. 

       Vũ Lân