Những chuyển biến tích cực trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên

04/12/2019 | 07:56 AM

Xem với cỡ chữ

Trong những năm gần đây, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã có những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp trong Đảng bộ đã nhìn nhận đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của công tác kiểm tra, giám sát là để phòng ngừa, kịp thời xử lý kỷ luật, ngăn ngừa vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; có tác dụng, ý nghĩa giáo dục và làm trong sạch tổ chức đảng. Từ đó cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở luôn coi trọng, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, ban  hành các văn bản để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tiếp tục quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Kết luận số 72-KL/TW ngày 17-5-2010 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020; các quy định, quy chế, quyết định, hướng dẫn của Trung ương Đảng, của Tỉnh ủy về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Đề án số 03-ĐA/TU ngày 15/8/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, UBKT các cấp nhiệm kỳ 2015-2020. Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 30 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ngày 22-10-2018 về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong Đảng bộ tỉnh nhằm phát huy cao vai trò của công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong công tác xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh.

Cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp và chi bộ đổi mới cụ thể theo hướng tăng cường giám sát thường xuyên, nắm chắc tình hình địa bàn, kịp thời xử lý dứt điểm các vụ việc phát sinh, nổi cộm ngay từ cơ sở; tăng cường trực tiếp làm việc với cấp ủy cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát để chỉ đạo giải quyết; tập trung kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, kể cả kiểm tra cách cấp để chấn chỉnh vi phạm trong các lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp như quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý tài chính, công tác cán bộ...; chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đơn vị trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; chỉ đạo tăng cường phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng...

Từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020 đến nay, cấp uỷ các cấp kiểm tra 5.804 đảng viên và 2.944 tổ chức đảng; qua kiểm tra phát hiện 195 đảng viên và 54 tổ chức đảng có khuyết điểm, vi phạm; phải thi hành kỷ luật 48 đảng viên và 3 tổ chức đảng. Cấp uỷ các cấp giám sát 3.740 đảng viên và 1.841 tổ chức đảng; qua giám sát đã phát hiện 46 đảng viên và 16 tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm; đã chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 3 đảng viên, 1 tổ chức đảng. Cấp ủy các cấp và chi bộ đã thi hành kỷ luật 1.188 đảng viên; thi hành kỷ luật 61 tổ chức đảng bằng các hình thức. Giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng 5 đảng viên.

UBKT các cấp đã chủ động xây dựng chương trình kiểm tra, sát; bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, tình hình chính trị địa phương để tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng, trong đó xác định nhiệm vụ trọng tâm là kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm và nhiệm vụ giám sát, cụ thể: UBKT các cấp đã kiểm tra 256 đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm (có 139 cấp ủy viên), kết luận 187 đảng viên có vi phạm; phải thi hành kỷ luật 74 đảng viên; kiểm tra 56 tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, kết luận 45 tổ chức đảng có vi phạm, phải thi hành kỷ luật 2 tổ chức đảng. Đồng thời, UBKT các cấp đã kiểm tra 394 tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và 166 tổ chức đảng cấp dưới về việc thi hành kỷ luật trong Đảng. Giám sát 443 đảng viên (có 369 cấp ủy viên), phát hiện và chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 15 đảng viên; giám sát 251 tổ chức đảng, phát hiện và chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 4 tổ chức đảng. Giải quyết tố cáo đối với 42 đảng viên (có 24 cấp ủy viên) và 2 tổ chức đảng; giải quyết khiếu nại 2 trường hợp; tiếp nhận 452 đơn tố cáo, khiếu nại hành chính, kiến nghị, phản ánh. Kiểm tra 27 tổ chức đảng về thu, chi ngân sách; 414 tổ chức đảng với 14.680 đảng viên về thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng phí. UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật 90 đảng viên (có 34 cấp ủy viên) bằng các hình thức.

Qua tăng cường công tác kiểm tra, giám sát từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay trong Đảng bộ tỉnh Hưng Yên cho thấy, số đảng viên bị thi hành kỷ luật hằng năm có xu hướng tăng. Năm 2016 có 321 đảng viên, 7 tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật; năm 2017 có 461 đảng viên, 23 tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật; năm 2018 có 462 đảng viên, 26 tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật; 6 tháng đầu năm 2019 có 197 đảng viên, 5 tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật. Nội dung vi phạm chủ yếu, chiếm tỉ lệ lớn là: Về chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (50,03%); đất đai, tài nguyên, khoáng sản (14,43%), thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo (16,38%), những điều đảng viên không được làm (9,5%). Các đơn vị có nhiều đảng viên bị kỷ luật là: Văn Lâm (229 đảng viên), Khoái Châu (206 đảng viên), Ân Thi (187 đảng viên), Phù Cừ (138 đảng viên), Yên Mỹ (121 đảng viên), Tiên Lữ (116 đảng viên), Thành phố Hưng Yên (88 đảng viên). Tổng số có 61 tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật, trong đó khiển trách 55 (chiếm 90,16%), cảnh cáo 6 (chiếm 9,84%), không có trường hợp tổ chức đảng vi phạm bị áp dụng hình thức kỷ luật giải tán.

Việc xử lý kỷ luật đảng viên, tổ chức đảng vi phạm cơ bản bảo đảm đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, quy trình thủ tục. Kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm, chú ý xem xét các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng mức kỷ luật. Tuy nhiên, vi phạm chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình chiếm tỷ lệ lớn và có chiều hướng gia tăng; nguyên nhân một phần là do hiện nay phương hướng xử lý còn nhẹ, chưa phù hợp (sinh con thứ 3 bị kỷ luật khiển trách; sinh con thứ 4 bị cảnh cáo hoặc cách chức nếu có chức vụ) dẫn đến tình trạng không ít đảng viên chấp nhận kỷ luật để sinh thêm con. Một số trường hợp tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm ở nhiệm kỳ trước nay tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ, đảng viên đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đều đã được xem xét, xử lý kỷ luật, tuy nhiên còn có vướng mắc về quy trình, thủ tục trong xem xét xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ (việc giao người thay mặt tổ chức viết báo cáo giải trình của tập thể, sử dụng con dấu...). Tính thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng và kỷ luật Nhà nước cơ bản được bảo đảm thực hiện nghiêm túc. Các tổ chức đảng sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng đã thực hiện chỉ đạo hoặc đề nghị ngay với tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự; khi các tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị-xã hội đình chỉ công tác hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, hội viên là đảng viên đã chủ động thông báo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên để xem xét xử lý kỷ luật đảng.

Tuy nhiên có một số khó khăn, vướng mắc là: Thời hiệu xử lý kỷ luật công chức quy định chưa phù hợp với quy định của Đảng, nhiều trường hợp xử lý, lỷ luật đảng sau đó đề nghị xử lý kỷ luật công chức thì hết hiệu lực; một số trường hợp bị kỷ luật đảng sau đó đề nghị xử lý về chính quyền song không xử lý được do không rõ đối tượng là công chức hay viên chức; trường hợp là đại biểu HĐND xã chỉ có hình thức miễn nhiệm, không có các hình thức kỷ luật khác khi chưa đến mức miễn nhiệm, bãi nhiệm....

Từ kết quả trên cho thấy công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ tỉnh đã được các cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nền nếp. Cấp uỷ các cấp chủ động xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ và hằng năm; kịp thời triển khai, quán triệt các văn bản của Đảng có liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức đảng thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; thường xuyên cho ý kiến đối với hoạt động của UBKT theo quy định của Điều lệ Đảng và quy chế làm việc; nghiêm túc tổ chức và chỉ đạo việc tổng kết, sơ kết công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo đúng quy định; quan tâm xây dựng, kiện toàn tổ chức, bộ máy UBKT, cơ quan UBKT; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra. Các cuộc kiểm tra, giám sát của cấp ủy đạt chất lượng và hiệu quả, so với nhiệm kỳ trước có nhiều ưu điểm nổi bật; đặc biệt đã tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát. Nội dung kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm, tập trung kiểm tra trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và cấp mình về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng. Qua kiểm tra, giám sát đã chỉ rõ ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm, xử lý kịp thời các vi phạm, có tác dụng tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, ngăn ngừa vi phạm, qua đó góp phần ổn định tình hình chính trị, phấn đấu hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020.

UBKT các cấp đã chủ động thực hiện khá toàn diện các nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định và nhiệm vụ cấp uỷ giao. Việc chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của UBKT Tỉnh ủy có nhiều nét đổi mới, chỉ đạo quyết liệt hơn, tăng cường giám sát thường xuyên, nắm chắc tình hình cơ sở, tập trung kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm có trọng tâm, trọng điểm, nhất là đối với lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp. Các nhiệm vụ khác như kiểm tra thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng, kiểm tra tài chính đảng được duy trì nền nếp; tăng cường giám sát thường xuyên, chủ động tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, tranh thủ sự chỉ đạo, hướng dẫn của UBKT cấp trên, tích cực tham gia giải quyết những điểm nóng, vụ việc nổi cộm; giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo; kiên quyết xử lý, tham mưu cấp ủy xử lý những vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, việc thi hành kỷ luật bảo đảm đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục, có tác dụng giáo dục, do vậy tình trạng khiếu nại kỷ luật đảng phải giải quyết giảm nhiều. Chất lượng, hiệu quả của các cuộc kiểm tra, giám sát được nâng lên; quy trình, hồ sơ thực hiện đúng quy định. Ngoài ra, UBKT các cấp tích cực, chủ động tham mưu giúp cấp uỷ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều 30, Điều lệ Đảng, là nòng cốt tham gia các cuộc kiểm tra, giám sát của cấp ủy và thực hiện tốt nhiệm vụ cấp ủy giao.

Công tác kiểm tra, giám sát giúp các tổ chức đảng, đảng viên nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ; uốn nắn những lệch lạc để các đơn vị được kiểm tra điều chỉnh; qua kiểm tra đã phát hiện, xem xét xử lý các trường hợp vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật để giữ vững kỷ cương trong Đảng, góp phần ổn định tình hình chính trị địa phương.

Qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, Tỉnh ủy Hưng Yên đã rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT các cấp và cán bộ đảng viên về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; khắc phục nhận thức lệch lạc về công tác kiểm tra, giám sát và việc thi hành kỷ luật trong Đảng.

Hai là, trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp uỷ giao, UBKT các cấp phải luôn coi trọng việc quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hướng dẫn của UBKT Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; chủ động, tích cực tham mưu đề xuất, nhất là đối với thường trực, thường vụ cấp uỷ; tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ, bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Ba là, thường xuyên kiện toàn tổ chức bộ máy và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của UBKT các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

Bốn là, thực hiện tốt quy chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng giữa UBKT với các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các ngành có liên quan để nắm chắc thông tin, thống nhất trong nhận định, đánh giá, kết luận các vụ việc phức tạp.

Năm là, phát huy vai trò trách nhiệm của nhân dân và các tổ chức chính trị-xã hội trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật. Nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, giữ mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng với Nhân dân, góp phần giữ nghiêm kỷ cương kỷ luật trong Đảng.

Sáu là, đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng, coi công tác thi đua khen thưởng là động lực quan trọng để thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn./.

An Bình