Nắm vững đặc điểm tâm lý trong hoạt động kiểm tra, giám sát

16/07/2020 | 14:16 PM

Xem với cỡ chữ

Thực tế công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng cho thấy khả năng hiểu biết và tác động đến tâm lý con người là một trong những yếu tố tạo nên thành công trong quá trình triển khai nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy và UBKT các cấp. Vì vậy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, cần phát huy tính tích cực của tâm lý con người; hạn chế, đẩy lùi tâm lý tiêu cực, bất mãn; tăng cường giá trị giáo dục thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Cụ thể là:

Trước hết, cấp ủy và UBKT các cấp cần nắm vững các yếu tố tâm lý - xã hội có tác động tích cực trong công tác kiểm tra, giám sát. Bao gồm: Lòng yêu nước và nêu cao tinh thần đoàn kết. Đây là đặc điểm rất quan trọng, nếu biết khai thác có thể cổ vũ sự cống hiến, nêu gương và khắc phục biểu hiện thiếu tự giác của cán bộ, đảng viên, nhất là trong trường hợp đối tượng kiểm tra, giám sát là con em gia đình có truyền thống cách mạng, gia đình có công với nước… Tuy nhiên, cán bộ kiểm tra cần phân biệt việc đối tượng lợi dụng người thân có chức vụ cao, gây cản trở trong hoạt động kiểm tra, giám sát để có phương án xử lý phù hợp, không chấp nhận thỏa hiệp, buông xuôi, né tránh.

Người Việt Nam có truyền thống trọng tình nghĩa, sự công bằng. Để thuyết phục được đối tượng kiểm tra, cán bộ kiểm tra khi làm việc cần phải khách quan, kết luận chính xác, thấu tình đạt lý. Cấp ủy và UBKT các cấp cần bồi dưỡng kỹ năng để cán bộ kiểm tra thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát với mục đích nhằm phát huy ưu điểm, ngăn ngừa khuyết điểm, xử lý nghiêm minh các vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, không làm oan người vô tội, góp phần thực hiện tốt dân chủ trong Đảng, tạo sự công bằng và cổ vũ động cơ cống hiến cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Công bằng còn là việc cấp ủy và UBKT các cấp phải kiên quyết khắc phục tình trạng “nhẹ trên, nặng dưới” trong công tác thi hành kỷ luật, tạo động cơ đấu tranh trong sáng của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, kiên quyết chỉ đạo khắc phục hậu quả do các hành vi vi phạm gây nên. Quá trình xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm, cán bộ kiểm tra cũng cần khai thác yếu tố tâm lý này để chỉ đạo cấp ủy chi bộ phân công, lựa chọn đảng viên có uy tín, giúp đảng viên bị kỷ luật khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, tránh phân biệt đối xử, kỳ thị với người bị kỷ luật, tạo cơ hội để họ tiếp tục cống hiến cho cơ quan, đơn vị, không bất mãn, tiêu cực, dễ trở thành môi trường cho các phần tử xấu mua chuộc, lôi kéo. Với những cán bộ, đảng viên vi phạm (đang trong quá trình xem xét, xử lý kỷ luật) nhưng có nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, quyết tâm sửa chữa, khắc phục hậu quả vi phạm, cấp ủy và UBKT có thể xem xét tình tiết giảm nhẹ khi xử lý kỷ luật và ngược lại.

Bên cạnh đó, cán bộ kiểm tra cần chú ý đến yếu tố người Việt Nam có tâm lý cộng đồng để tham mưu với cấp ủy và UBKT kịp thời có định hướng dư luận, bênh vực người tốt, bảo vệ người dũng cảm dám tố giác vi phạm của người có chức, có quyền, kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực… Sức mạnh của cộng đồng sẽ gây áp lực tâm lý buộc cán bộ, đảng viên có vi phạm phải hối hận, sửa chữa và khắc phục các khuyết điểm, vi phạm do mình gây ra. Cấp ủy và UBKT cần chủ động chấn chỉnh các yếu tố bè cánh, dòng họ bao che, dung túng cho đối tượng vi phạm, không chấp hành kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước đang tồn tại trong tổ chức đảng không được ngăn chặn triệt để.

Qua hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở nước ta đã tạo ra những biến đổi tâm lý sâu sắc ở người Việt Nam, chuyển đổi từ tâm lý  của con người trong nền sản xuất nông nghiệp sang tâm lý của con người trong nền sản xuất công nghiệp. Biểu hiện như: Nhu cầu đổi mới, nhu cầu quan hệ xã hội phát triển. Ranh giới dòng họ, “lũy tre làng” bị phá vỡ, nhu cầu của con người ngày càng mở rộng và nâng cao, nhất là nhu cầu về sự công bằng, dân chủ và bình đẳng xã hội. Nội dung này thường gặp khi giải quyết tố cáo, khiếu nại do cán bộ có chức, có quyền bảo thủ, không muốn cho những người có tài năng có cơ hội cống hiến, sáng tạo nên tìm mọi cách hãm hại, trù dập. Do vậy, cán bộ kiểm tra phải phát huy bản lĩnh nghiệp vụ, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện sai trái, ủng hộ cái đúng, cái tốt và tạo điều kiện để người có tài năng không bị mất động cơ cống hiến mà bỏ cuộc do mất niềm tin vào cơ chế, lãnh đạo, điều hành nội bộ.

Công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc phát hiện và xử lý vi phạm mà còn có những kiến nghị phù hợp đối với việc lãnh đạo, điều hành nhằm phát huy tốt dân chủ trong Đảng, quy định thời gian phúc tra việc chấp hành kết luận kiểm tra đã ban hành. Nội dung kết luận kiểm tra hay kết quả giám sát phải cân đối, nêu được những ưu điểm vượt trội đáng ghi nhận, đồng thời nêu hạn chế, khuyết điểm cần chấn chỉnh, xử lý vi phạm, phân biệt sự khác biệt giữa kết luận kiểm tra với kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, cán bộ kiểm tra cũng cần phát hiện những kẻ cơ hội, lợi ích nhóm, biểu hiện như khi phát biểu có vẻ rất tích cực nhưng khi thực hiện lại cố tình làm sai, làm theo ý mình, không tôn trọng kỷ luật của Đảng và pháp luật của nhà nước, cán bộ kiểm tra cần coi trọng công tác thẩm tra, xác minh, xâu chuỗi các sự kiện để có kết luận kiểm tra hoặc kết quả giám sát chính xác, có tác dụng giáo dục cao.

Thứ hai, các yếu tố tâm lý xã hội có tác động tiêu cực cần hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát. Đó là, tránh nhìn nhận, đánh giá con người theo suy nghĩ chủ quan, định kiến cá nhân. Chủ thể kiểm tra mới tiếp cận đại diện cấp ủy hoặc lãnh đạo quản lý đối tượng kiểm tra, qua trao đổi đã tin cậy tuyệt đối vào ý kiến của cán bộ quản lý. Điều này dẫn đến tâm lý hoài nghi khi chủ thể kiểm tra tiếp cận đối tượng, nếu quá trình tiếp xúc không hòa hợp dễ dẫn đến áp đặt các nhận xét thiếu khách quan cho đối tượng kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kết quả là đối tượng có thể khiếu nại về các kết luận đối với mình hoặc bất mãn, chống đối, trở thành người tiêu cực dễ bị kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc.

Đồng thời, quá trình kiểm tra cần so sánh nội dung báo cáo của đối tượng kiểm tra, giám sát với kết quả thẩm tra, xác minh để xác định mức độ trung thực, đúng, sai của hành vi, phạm vi rộng, hẹp của từng nội dung để kết luận chính xác. Chủ thể kiểm tra phải rất coi trọng công tác thẩm tra, xác minh, tích cực thu thập chứng cứ, nghiên cứu kỹ các chứng cứ, xác định giá trị chứng minh của chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ, việc. Khi có kết quả thẩm tra, xác minh đúng, chính xác sẽ hỗ trợ tâm lý cho cán bộ kiểm tra tự tin hơn, thận trọng hơn khi xây dựng các dự thảo kết luận hoặc quyết định cần ban hành, tránh làm oan sai cho đối tượng kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Việc sử dụng từ ngữ trong kết luận cần thận trọng, đúng, sai rõ ràng, nếu không đủ cơ sở kết luận hoặc quá thời hiệu cũng phải nêu rõ trong kết luận, tránh chung chung, né tránh.

Ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý tiêu cực đối với công tác kiểm tra được biểu hiện như: Tâm lý tự do, tùy tiện, qua loa, đại khái, thường có trong kiểm tra “chấp hành”, nghĩa là có kiểm tra, có nhắc nhở chung chung, “dĩ hòa vi quý”. Như vậy sẽ hạn chế tác dụng của công tác kiểm tra, tạo môi trường thuận lợi cho các vi phạm không bị chấn chỉnh, xử lý, dẫn đến tâm trạng hoài nghi, không yên tâm công tác của cán bộ, đảng viên vì biết đang tồn tại những cán bộ, đảng viên có vi phạm nhưng vẫn “bình yên” do kiểm tra chỉ làm lấy lệ cho xong mà không hướng đến mục tiêu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Khi kiểm tra, giám sát cần chú ý đến tư tưởng “bình quân chủ nghĩa”, “xấu đều hơn tốt lỏi”: Biểu hiện rõ nhất là có nhiều cán bộ, đảng viên làm việc cầm chừng, nghe ngóng, không có chí tiến thủ, cơ hội, gió chiều nào che chiều ấy. Cán bộ kiểm tra, giám sát có thể chưa phát hiện vi phạm nhưng cần so sánh kết quả công tác trong các khoảng thời gian khác nhau để nhận biết, chấn chỉnh động cơ cống hiến của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Với những chủ trương mới, có thể động chạm tới lợi ích của một số tổ chức, cá nhân, vẫn phải yêu cầu kiên quyết chỉ đạo triển khai, thực hiện. (Ví dụ như việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, tinh giảm biên chế…). Tâm lý trên còn bộc lộ như muốn cào bằng không muốn công bằng, ai làm nhiều làm ít không biết nhưng chia đều lợi ích, kéo dài tình trạng này sẽ dẫn đến xu hướng thỏa mãn, không làm vẫn hưởng, nhưng lại có một số người mang tâm lý chán nản không muốn cống hiến vì bị lạm dụng. Cán bộ kiểm tra cần nắm tình hình thận trọng, thu thập nhiều thông tin để xác định mức độ tâm lý này ở mức nào để tham mưu với cấp ủy và UBKT có biện pháp thích hợp.

Mặt khác, cũng cần chú ý đến tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa dẫn đến “kéo bè, kéo cánh” khi giải quyết đơn khiếu kiện hoặc mâu thuẫn nội bộ. Nội dung này thường thấy khi cần các biểu quyết của tập thể chi bộ, cấp ủy, liên quan đến việc xem xét, xử lý kỷ luật, hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nếu tỷ lệ cán bộ, đảng viên ở địa phương, vùng miền lớn rất dễ dẫn đến tình trạng bao che, dung túng, hoặc chấp nhận xử lý ở hình thức nhẹ nhất nhằm “bảo toàn lực lượng”. Do vậy, trước khi lấy biểu quyết thi hành kỷ luật, hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo… cán bộ kiểm tra cần nắm vững mối quan hệ nội bộ như họ hàng, vùng miền, thậm chí phải khảo sát, thăm dò thận trọng qua các cá nhân hoặc lãnh đạo các đoàn thể, phân tích kỹ trong hội nghị cấp ủy hoặc chi bộ để mỗi thành viên nhận thức nghiêm túc trách nhiệm cá nhân, thúc đẩy việc hợp tác tích cực trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Một tâm lý tiêu cực khác là thái độ nể nang, né tránh, ngại va chạm, ngại đấu tranh, thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Biểu hiện này thường gặp trong kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm hoặc giải quyết những đơn thư tố cáo lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Cán bộ kiểm tra khi đưa ra hội nghị thảo luận, có tình trạng nhiều thành viên tham gia hội nghị “không có ý kiến” hoặc ít có ý kiến tham gia, coi như “chưa biết” do ngại va chạm với cấp trên. Trong trường hợp cụ thể, nội dung kiểm điểm hoặc tường trình của đối tượng kiểm tra, cấp ủy hoặc UBKT cần gợi ý nội dung chi tiết, liên quan những vấn đề cần làm rõ, yêu cầu đối tượng kiểm tra trình bày đầy đủ trong báo cáo, không phụ thuộc quá nhiều vào ý kiến hội nghị chi bộ, hoặc hội nghị cấp ủy để định hướng hình thức xử lý phù hợp. Khi đã được cấp ủy hoặc UBKT gợi ý kiểm điểm, nhưng đối tượng không trung thực, quanh co, chống đối… thì tùy theo tính chất, nội dung, phạm vi cụ thể của từng vụ việc mà cấp ủy hoặc UBKT có thể coi đó là tình tiết tăng nặng khi xem xét thi hành kỷ luật.

Thái độ cầu an, vô cảm, thờ ơ, vô trách nhiệm, thiếu chính kiến, không kiên định lập trường; sức ép tin đồn, dư luận làm sai lệch sự thật khách quan cũng là một yếu tố tâm lý tiêu cực. Biểu hiện này thường là cán bộ có thẩm quyền giải quyết vụ việc cụ thể nhưng lại trốn tránh trách nhiệm quản lý theo phân cấp, đùn đẩy lên cấp ủy và UBKT cấp trên, hoặc giải quyết theo kiểu  gọi là “có làm” nhưng qua loa, chiếu lệ, nếu có ý kiến thắc mắc lại đổ cho cấp trên không hướng dẫn. Khi có hậu quả lại không coi đó là trách nhiệm trong quản lý cán bộ, đảng viên mà cho rằng do các yếu tố khách quan dẫn đến vi phạm. Cán bộ kiểm tra cần sàng lọc, làm rõ vai trò cá nhân với từng vụ việc để quy trách nhiệm, không đổ lỗi cho tập thể chung chung.

Ngoài ra, cán bộ kiểm tra nếu không bản lĩnh dễ bị cám dỗ bởi lợi ích cá nhân dẫn đến xuê xoa, nương nhẹ, thiếu khách quan, nghiêm túc khi xem xét, kết luận. Cán bộ lãnh đạo, quản lý, cả cán bộ kiểm tra có thể bị đối tượng kiểm tra mua chuộc bằng lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác, biểu hiện áp dụng toàn các chứng cứ “gỡ tội”, nhằm làm nhẹ mức độ vi phạm để cuối cùng kết luận chỉ là “kiểm điểm, rút kinh nghiệm”, thậm chí chế biến nội dung kết luận, làm sai lệch với thực tế. Khi cấp ủy hoặc UBKT ban hành kết luận kiểm tra dễ gây dư luận bất bình trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong một số trường hợp, biểu hiện bao che với mục đích bảo vệ danh hiệu, thành tích tập thể, nếu không có cá nhân bị xử lý sẽ bảo đảm thành tích chung, liên quan lợi ích cá nhân, tập thể khi đánh giá, xếp loại hằng năm. Khi đó, cán bộ quản lý đối tượng kiểm tra đưa ra các lý do khách quan dẫn đến vi phạm của đối tượng như: Thiếu hiểu biết, không có đủ điều kiện kỹ thuật để thực hiện, thậm chí do thời tiết bão, lũ… Cán bộ kiểm tra cần bình tĩnh, tỉnh táo để nhận biết các nội dung này mới thực hiện tốt được nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo phân công của tổ, đoàn công tác.

Tóm lại, các yếu tố tâm lý -  xã hội (dù là tích cực hay hạn chế) đều mang tính hai mặt, không yếu tố nào là tuyệt đối. Đây là vấn đề mang tính quy luật: Nếu cấp ủy và UBKT các cấp bồi dưỡng tốt cho cấp ủy viên và cán bộ kiểm tra nắm vững tâm lý và vận dụng một cách linh hoạt sẽ có lợi trong quá trình làm nhiệm vụ và nâng cao kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng./.

Nguyễn Quỳnh Giao

(Giảng viên chính Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực I)