Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, nghị quyết và văn bản của Đảng về công tác dân vận

05/06/2020 | 15:01 PM

Xem với cỡ chữ

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta. Từ tổng kết thực tiễn trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta có nhiều nghị quyết, quyết định, chỉ thị lãnh đạo công tác dân vận của Đảng, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng là một trong những nội dung quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng nói chung, đặc biệt là các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận.

Thời gian qua, bên cạnh những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, ở một số địa phương trong cả nước đã để xảy ra “điểm nóng”, vụ việc phức tạp, điển hình như: Vụ nông dân Thái Bình khiếu kiện xảy ra ở hầu hết các xã năm 1997-1999; bạo động ở Tây Nguyên tháng 2/2002 và tháng 4/2004; vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Văn Giang (Hưng Yên) năm 2012; vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng (Hải Phòng) năm 2012; vụ đòi lại đất liên quan đến tôn giáo tại giáo xứ Thái Hà (Hà Nội) năm 2011; vụ tập trung người Mông trái phép ở Mường Nhé (Điện Biên) năm 2011; vụ gây rối ở Bình Dương, Đồng Nai năm 2014; các vụ việc ở giáo phận Vinh lợi dụng sự cố môi trường biển dự án Formosa (Hà Tĩnh) tụ tập gây rối từ tháng 4/2016 đến nay; vụ lấn chiếm đất quốc phòng tại xã Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội) tháng 4/2017, vụ kích động gây rối tại Phan Rí (Phan Thiết, Bình Thuận) tháng 6/2018… Để xảy ra những “điểm nóng” trên có một phần nguyên nhân không nhỏ là cấp uỷ và chính quyền các cấp chưa làm tốt công tác dân vận, chưa thực sự dân chủ khi triển khai thực hiện một số chủ trương, quyết sách lớn của địa phương.

Nhìn một cách tổng thể, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT các cấp đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị và các văn bản của Đảng về công tác dân vận; chú trọng xây dựng chương trình, kế hoạch, lựa chọn nội dung, đối tượng kiểm tra phù hợp và tiến hành có nền nếp, đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục. Qua đó đã có tác dụng lan toả, thúc đẩy các cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới, người đứng đầu tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận gắn với nghị quyết của cấp uỷ cấp trên và của cấp mình nghiêm túc, có kết quả.

UBKT và cán bộ kiểm tra các cấp chủ động thực hiện và phối hợp với các tổ chức đảng có liên quan thực hiện nhiệm vụ giám sát việc chấp hành các chỉ thị, nghị quyết về công tác dân vận. Tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên được kiểm tra chấp hành nghiêm chỉnh khi được kiểm tra. Các tổ chức đảng quản lý cán bộ, đảng viên, tổ chức và cá nhân liên quan có nhận thức đúng, nêu cao vai trò, trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện cho việc kiểm tra đạt kết quả. Điều quan trọng là các cấp uỷ, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành tương đối đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận nói riêng. Nhìn chung, kết quả kiểm tra, giám sát thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận, từ nhận thức đến hành động, đã được nhiều các cấp uỷ thực hiện nghiêm túc, khẳng định rõ hiệu quả của công tác kiểm tra của cấp uỷ, tạo cơ sở cho việc đánh giá trung thực, khách quan phong trào cách mạng của quần chúng ở các địa phương; đồng thời, qua kiểm tra, giám sát, các cấp uỷ đã nhìn nhận được những khó khăn, vướng mắc để kịp thời điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn.

Khái quát lại, có thể thấy rõ: Ở khâu ra chủ trương trong phạm vi cả nước hoặc trong một địa phương, các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận đều xuất phát từ tình hình bức xúc của thực tiễn. Tuy nhiên, việc kiểm tra, giám sát thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận còn một số hạn chế, tồn tại cần sớm được khắc phục: Còn một bộ phận cấp uỷ, tổ chức đảng nhất là từ cấp huyện và tương đương trở xuống và cán bộ, đảng viên chưa nắm vững nội dung các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận, kể cả những nghị quyết liên quan trực tiếp đến thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, quá trình thực hiện không nghiêm, không đầy đủ, chậm triển khai thực hiện hoặc thực hiện mang tính hình thức hoặc thiếu năng động, sáng tạo.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở các cấp chưa thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận, dẫn đến để xảy ra khuyết điểm, sai phạm. Khi cán bộ, đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý có thiếu sót, khuyết điểm trong thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận còn bao che, không kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, uốn nắn hoặc chỉ đạo kiểm điểm, khắc phục. Một số cấp uỷ và tổ chức đảng, trong đó có người đứng đầu, cán bộ chủ chốt còn vụ lợi cá nhân hoặc một nhóm người, gây thiệt hại cho Đảng, Nhà nước, xã hội và Nhân dân. Việc xem xét, kết luận, xử lý một số cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm về thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận còn chậm, có trường hợp để kéo dài, không triệt để hoặc xử lý không đúng mức, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác dân vận còn có những hạn chế, bất cập, như: Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật chưa được nhiều địa phương quan tâm nên sự chuyển biến nhận thức của các tầng lớp Nhân dân chưa tốt, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm. Một số địa phương, ban, ngành chức năng ít sâu sát cơ sở, ít gần gũi Nhân dân, nhất là ở vùng có tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm kinh tế, an ninh, quốc phòng nên việc nắm các mâu thuẫn, các tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân không chắc, không thường xuyên vì thế dễ phát sinh những vụ việc phức tạp và điểm nóng. Công tác xây dựng lực lượng nòng cốt ở một số nơi làm chưa tốt nên thường bị động khi có những vụ việc phức tạp xảy ra. Giữa các lực lượng có lúc, có nơi thiếu sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ nên hiệu quả nắm tình hình còn hạn chế. Công tác quản lý thông tin còn nhiều lúng túng, chưa có biện pháp hiệu quả quản lý được những thông tin kích động của các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội, đồng thời chưa xử lý nghiêm, đúng mức người vi phạm pháp luật trên lĩnh vực truyền thông. Một số địa phương, cơ sở chưa quan tâm đúng mức công tác chỉ đạo phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội nên số hộ nghèo còn cao, thiếu việc làm nhiều, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân chậm được cải thiện là nguyên nhân hết sức quan trọng làm cho Nhân dân bức xúc, bất bình. Cùng với đó, công tác quản lý nhà nước về đất đai, về phòng chống tham nhũng, tiêu cực về công tác cán bộ còn có những sơ hở, sai phạm, gây bất bình trong Nhân dân, dễ gây nên những vụ việc phức tạp, điểm nóng.

Nguyên nhân của chính của những hạn chế, bất cập đó là: Một số cấp ủy đảng buông lỏng lãnh đạo chính quyền trong quản lý nhà nước về đất đai, về phòng chống tham nhũng, về thực hiện đầu tư, về phát huy dân chủ với Nhân dân… thiếu kiểm tra, đôn đốc và bố trí người đứng đầu chính quyền không đáp ứng tiêu chuẩn, yêu cầu nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ chủ chốt chính quyền, nhất là người đứng đầu thiếu gương mẫu, thiếu kinh nghiệm, bản lĩnh trong chỉ đạo điều hành, nhất là kỹ năng xử lý các tình huống phức tạp khi đã xảy ra điểm nóng, ý thức trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương không nghiêm, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực yếu.

Để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận cần thực hiện tốt các vấn đề sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp uỷ, tổ chức đảng và chi bộ, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, sự cần thiết của việc kiểm tra, giám sát đảng viên trong việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận để có nhận thức đúng và coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện việc kiểm tra, giám sát theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cấp uỷ, tổ chức đảng, chi bộ.

Hai là, các ban của cấp uỷ, UBKT, một mặt chủ động tham mưu, giúp cấp uỷ xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận sát hợp, tham gia các cuộc kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, giúp cấp uỷ xem xét, kết luận các cuộc kiểm tra, giám sát và đôn đốc, theo dõi đối tượng kiểm tra, giám sát chấp hành nghiêm kết luận kiểm tra, giám sát. Mặt khác, căn cứ chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp trên của mình để xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận có trọng tâm, trọng điểm, sát hợp tránh chạy theo thành tích.

Ba là, UBKT tăng cường công tác nắm tình hình, giám sát cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết và các văn bản của Đảng về công tác dân vận để nhắc nhở, uốn nắn, cảnh báo chấp hành tốt. Đồng thời, kịp thời phát hiện những trường hợp có khuyết điểm, dấu hiệu vi phạm để tiến hành kiểm tra, xem xét, kết luận, xử lý hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý nghiêm minh các trường hợp có vi phạm./.

TS. Trần Duy Hưng

Phó Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Cơ quan UBKT Trung ương