Kiểm soát quyền lực của người đứng đầu qua tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

21/10/2020 | 17:03 PM

Xem với cỡ chữ

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đặt ra nhiệm vụ rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ sẽ là tác nhân làm tha hóa cán bộ, dẫn tới tha hóa, thoái hóa, biến chất cả bộ máy.

Kiểm soát quyền lực của người đứng đầu được thực hiện bằng nhiều chủ thể và phương thức khác nhau, trong đó phát huy dân chủ, đề cao việc khiếu nại, tố cáo của các đảng viên, công dân là phương thức quan trọng nhất đối với các hành vi của người đứng đầu vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Khiếu nại, tố cáo là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của công dân được ghi trong Hiến pháp và trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Đảng, Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Việc khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các tổ chức đảng và đảng viên trước hết là người đứng đầu đã được cụ thể hóa trong Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng. Công cuộc xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh đòi hỏi phải phát huy vai trò và trách nhiệm của đảng viên và công dân tích cực tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ tố cáo, khiếu nại, trong đó có tố cáo, khiếu nại những đảng viên, nhất là những đảng viên giữ cương vị đứng đầu tha hóa quyền lực, tham nhũng, lợi ích nhóm, suy thoái đạo đức, lối sống là rất cần thiết và quan trọng.

Một trong những nhiệm vụ của UBKT các cấp là giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với tổ chức đảng, đảng viên, đặc biệt là những người đứng đầu. Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 210-QĐ/TW về giải quyết tố cáo và phối hợp giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trên cơ sở quy định của Bộ Chính trị, ban thường vụ cấp ủy cấp trên và cấp mình xác định cụ thể, đầy đủ những tố cáo đảng viên thuộc thẩm quyền giải quyết.

Trong mỗi đợt sinh hoạt chính trị lớn của đất nước như tổ chức Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, UBKT Trung ương đều có hướng dẫn cụ thể: Các cấp ủy đảng cần nắm chắc tình hình tố cáo, kịp thời phân loại, xử lý tố cáo tổ chức đảng, đảng viên. Tăng cường việc tiếp đảng viên, công dân, tiếp nhận đơn tố cáo, phản ánh; kịp thời tổng hợp nắm chắc số lượng đơn. Chủ động phân loại, rà soát để xác định rõ tố cáo không phải giải quyết. Đồng thời, căn cứ nội dung tố cáo, đối tượng bị tố cáo và quy định phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị, ban thường vụ cấp ủy cấp trên và cấp mình để xác định cụ thể, đầy đủ những tố cáo tổ chức đảng, đảng viên thuộc thẩm quyền giải quyết.

Qua 5 năm (2015 - 2019), UBKT Trung ương đã tiếp nhận và xử lý đơn thư tố cáo, phản ánh, kiến nghị 30.998 đơn; trong đó, tố cáo là 13.020 đơn; kiến nghị, phản ánh 17.503 đơn; khiếu nại kỷ luật đảng 475 đơn. Việc xử lý đơn thư tập trung vào các đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết của UBKT Trung ương, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương; đơn khiếu nại kỷ luật đảng; đơn thư liên quan đến nhân sự; đơn có nội dung phức tạp, khiếu kiện kéo dài. UBKT Trung ương luôn chỉ đạo các vụ, địa bàn trao đổi, chuyển tải thông tin đối với những đơn thư nặc danh nhưng có nội dung tố cáo cụ thể... để các vụ, địa bàn có điều kiện theo dõi, kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên là người đứng đầu các ngành, các cấp.

Qua tiếp nhận xử lý đơn thư, UBKT Trung ương nhận thấy: Các nội dung khiếu nại, tố cáo của đảng viên, công dân về người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ và đoàn thể các cấp, thường tập trung vào: Vi phạm các nguyên tắc hoạt động của Đảng, thiếu trách nhiệm, không quan tâm đến đến bức xúc của người dân, quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, vi phạm quản lý đất đai, tài nguyên. Bên cạnh đó, là hành vi tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp để trục lợi, thao túng trong công tác cán bộ, bổ nhiệm người nhà, người thân không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, chạy chức, chạy quyền, vi phạm chế độ hôn nhân - gia đình, chính sách dân số, bao che cho sai phạm của cán bộ cấp dưới, có tài sản không phù hợp với thu nhập, kê khai không trung thực, vi phạm các quy định pháp luật trong tố tụng dân sự, hình sự… Trong đó khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực hành chính bao gồm: Quyết định hành chính, hành vi hành chính khoảng 85,4%; khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý đất đai có tỉ lệ cao nhất gần 75% với nhiều vấn đề như thu hồi đất thực hiện các dự án, đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư, tranh chấp nhà đất; lĩnh vực tư pháp 8%; tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn vụ lợi cá nhân, bao che cho sai phạm của cấp dưới, làm trái các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước 10%...

Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo có thể nhận diện tha hoá quyền lực của người đứng đầu có một số biểu hiện cơ bản như sau: 1) Lạm quyền: Người nắm quyền tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền. Sự “tạo thêm” này là “dạng vượt quá giới hạn”, làm biến dạng quyền lực. 2) Lộng quyền: Là sự liều lĩnh của người nắm quyền khi “làm” mà không cần biết hậu quả xảy ra thế nào và cũng không sợ trách nhiệm mình phải gánh chịu. 3) Trục lợi từ quyền: Hình thành dần trong quá trình thực thi quyền lực, do các chủ thể quyền lực có thể “tranh thủ” chi phối đối tượng để đòi hỏi các lợi ích vật chất và tinh thần cho mình. 4) Độc đoán, chuyên quyền: Người được xã hội trao quyền muốn thâu tóm, khống chế quyền lực bằng một cơ chế tập trung quyền lực cao độ về mình; trấn áp tất cả các thế lực chống đối để tuyệt đối hóa quyền lực của mình. 5) Quan liêu: Biểu hiện người nắm quyền không bám sát thực tế, không dựa trên những cơ sở thực tế để thực thi quyền lực công mà chỉ nhằm bảo vệ lợi ích ích kỷ của mình, nhóm mình, địa phương mình,v.v.. 6) Tuỳ tiện: Người nắm quyền hoặc không biết rõ quyền lực của mình đến đâu hoặc cẩu thả trong thực thi quyền được trao mà không ý thức được hậu quả mình gây ra. 7) Tiếm quyền: Biểu hiện người nhận được quyền lực một cách không hợp pháp mà là sự “đoạt được” địa vị của người có quyền lực hợp pháp. 8) Vô trách nhiệm: Thờ ơ hoặc buông xuôi trước trước yêu cầu của việc thực thi quyền lực được trao; thường gây thiệt hại cho xã hội và cho chính người trao quyền. 9) Bất lực: Thể hiện trong việc người nắm quyền lực dần mất đi thực quyền hoặc kém khả năng quyết đoán; chỉ có danh mà không có sức mạnh để thực thi ý chí của mình; thường bị thao túng bởi một thế lực nào đó. 10) Tham quyền cố vị: Biểu hiện người có quyền lực bằng mọi cách giữ lại địa vị vốn có mà không từ một thủ đoạn nào để loại trừ đối thủ. 11) Phân tán quyền lực: Sự biến tướng dưới dạng cục bộ địa phương, lợi ích cá nhân, chia bè kéo cánh; làm mất đi tính thống nhất về quyền lực nhà nước cũng như lợi ích của quốc gia, dân tộc,v.v..

Nhìn chung, thông qua tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, UBKT các cấp đã giúp cho Đảng tăng cường kiểm soát quyền lực của người đứng đầu. Qua kiểm tra dấu hiệu vi phạm và giải quyết tố cáo, nhiều vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng đã được xem xét, xử lý nghiêm. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ khoá XII đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, UBKT Trung ương đã phải thi hành kỷ luật hơn 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự. Nhiều cán bộ, đảng viên có vi phạm kể cả cán bộ cao cấp, người còn đương chức hay về hưu khi có vi phạm đã bị xử lý kỷ luật. Dư luận đảng viên, người dân rất phẫn nộ và lên án đối với tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận người đứng đầu cấp ủy, chính quyền.

Trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đã cơ bản thực hiện đúng nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thời gian quy định của Ngành; UBKT các cấp luôn tạo điều kiện và bảo vệ cho đảng viên, người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định, đồng thời đề nghị cấp ủy chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm đối những đảng viên, công dân lạm dụng quyền khiếu nại, tố cáo để thực hiện hành vi vu cáo, làm hại người khác. Bên cạnh đó, nhiều vụ việc sau khi thẩm tra xác minh, dù UBKT thông báo không giải quyết theo quy trình tố cáo đối với người đứng đầu vì nội dung không có cơ sở, nhưng tác dụng cũng giúp cho người đứng đầu nhận thức được những vấn đề, những bức xúc của người dân ở địa phương để chấn chỉnh cấp dưới, nhanh chóng tháo gỡ và giải quyết kịp thời những vấn đề dân nêu.

Kiểm soát quyền lực thực chất là chống lại những việc làm tha hóa quyền lực, làm méo mó công việc, tham quyền lợi, lợi ích, dẫn đến làm sai đường lối chủ trương của Đảng pháp luật nhà nước để đạt mục đích. Kiểm soát quyền lực của người đứng đầu là phòng, chống sự tha hóa quyền lực của cá nhân đó. Quyền lực càng cao, càng tuyệt đối, tha hóa càng lớn nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Tình trạng tha hóa ở cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo chính là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng mất dần đi cái tốt, tăng dần cái xấu, giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng cách mạng, xuống cấp về đạo đức, lối sống.

Với quan điểm “lấy dân làm gốc”, công tác tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo phải được coi là một biện pháp, một phương thức quan trọng hỗ trợ đắc lực cho công cuộc phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên trong đó có người lãnh đạo, người đứng đầu. Đảng, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đảng viên và công dân tích cực tham gia phát hiện dấu hiệu vi phạm của người đứng đầu và đóng góp ý kiến xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và công tác xây dựng Đảng. Tiếp nhận giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo phải theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt địa vị giữa người viết đơn và người bị khiếu nại, tố cáo. Sự vận hành của cơ chế tiếp nhận giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đối với người đứng đầu khi có các biểu hiện tha hóa quyền lực phải thể hiện tính chiến đấu của Đảng, tính công khai, minh bạch và phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đề ra.

Làm tốt công tác kiểm soát quyền lực của người đứng đầu qua giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên và công dân sẽ giúp cho Đảng giảm được nhiều tiêu cực; có cái nhìn khách quan, toàn diện, sâu sắc, nắm chắc những chủ thể nắm quyền lực khi thực hiện nhiệm vụ, thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đề ra; củng cố lòng tin của đảng viên, nhân dân với Đảng, chính quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh. Do vậy, cần chú trọng một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước để nâng cao nữa nhận thức của toàn hệ thống chính trị và xã hội về tác hại của sự tha hóa quyền lực, nhất là lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lợi ích nhóm. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức thích hợp, thiết thực để cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm được các quy định của Đảng, nhất là các quy định về kiểm tra, giám sát trong Đảng, Quy định về những điều đảng viên không được làm,… Qua đó, tạo sự đồng thuận trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong việc đấu tranh và phản ánh những dấu hiệu tha hóa quyền lực, tham nhũng, lợi ích nhóm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu nhằm góp phần đắc lực phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.

Hai là, xây dựng, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong công tác tổ chức cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, chính sách, pháp luật; quyền hạn phải được ràng buộc bằng trách nhiệm theo quy định cụ thể trong cơ chế, chính sách, pháp luật. Cơ chế kiểm soát quyền lực phải theo hướng đa chiều, đa diện với nhiều kênh khác nhau, như kiểm soát bằng thể chế kết hợp với kiểm soát bằng đạo đức đảng viên, đạo đức công vụ; trách nhiệm giải trình, trách nhiệm công vụ; kiểm soát của cấp trên đối với cấp dưới và ngược lại; kiểm soát chéo giữa các cơ quan, tổ chức; kiểm soát trong Đảng thống nhất, đồng bộ với kiểm soát của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị; kiểm soát của cơ quan chuyên trách với cơ quan không chuyên trách; kiểm soát của cơ quan quyền lực kết hợp với kiểm soát của báo chí và dư luận xã hội.

Xây dựng có hiệu quả các cơ chế kiểm soát quyền lực, nhất là đặt quyền lực vào trong khuôn khổ của pháp luật, nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, sức mạnh của kỷ luật Đảng và vai trò giám sát của nhân dân. Bên cạnh đó, cần thực hiện nghiêm các nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch. Trong giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo cần phải công khai để dân cùng biết, cùng giám sát. Bởi kiểm soát quyền lực của người đứng đầu không chỉ cần có cán bộ, đảng viên, mà cần sự tham gia của người dân. Để làm được điều này, sự giám sát, giúp đỡ của nhân dân, lắng nghe ý kiến nhân dân là hết sức cần thiết. Khuyến khích, động viên công dân khiếu nại, tố cáo những hành vi, việc làm trái quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước và có cơ chế bảo vệ, khen thưởng người khiếu nại, tố cáo. Đồng thời có chế tài xử lý nghiêm những đảng viên, công dân có hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, gây mất đoàn kết, hạ uy tín người đứng đầu.

Ba là, để kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, từng cán bộ, đảng viên phải tự giác và tự kiểm soát việc thực hiện quyền và chức trách, nhiệm vụ của chính mình; tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật có liên quan và Quy định những điều đảng viên không được làm; quy định về quản lý cán bộ, đảng viên và “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Bốn là, đối với công tác tiếp đảng viên và công dân: Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải trực tiếp tiếp công dân theo định kỳ mỗi tháng ít nhất 2 ngày làm việc và tiếp công dân đột xuất khi công dân có yêu cầu hoặc khi đối thoại trực tiếp với công dân để giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, phân công cán bộ thực hiện tiếp công dân thường xuyên tại cơ quan, đơn vị; khi tiếp công dân phải có thái độ đúng mực, tôn trọng công dân, không to tiếng với công dân, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của công dân, ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà công dân trình bày. Đối với những yêu cầu của công dân không có cơ sở để giải quyết, phải kiên trì giải thích quy định của pháp luật và yêu cầu công dân chấp hành. Đối với những yêu cầu của công dân có cơ sở thì phải tiếp thu, giải quyết theo đúng quy định.

Năm là, đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo: Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải trực tiếp phụ trách công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ quan, đơn vị, không phân công cho cấp phó phụ trách (trừ những trường hợp đặc biệt ); việc xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải đúng thẩm quyền, quy trình, thời hạn, hình thức, nội dung theo quy định; không lợi dụng việc thiếu hiểu biết pháp luật của công dân để vận động công dân chuyển từ đơn khiếu nại, tố cáo thành yêu cầu, kiến nghị nhằm làm mất quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.

Sáu là, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực được giao để thực hiện những hành vi sai trái trong giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, của cấp trên đối với cấp dưới, đồng thời, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; trong xử lý sai phạm phải kịp thời, nghiêm minh, không loại trừ bất cứ đối tượng nào, ở bất kỳ cấp nào, giữ bất kỳ cương vị nào. Nếu lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, tham nhũng, lợi ích nhóm trong giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo đều phải xử lý nghiêm minh theo kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát nếu được thực hiện đúng chức năng của mình sẽ có tác dụng xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm quy định của Đảng, vi phạm pháp luật, ngăn chặn, hạn chế tình trạng tham nhũng, lạm dụng quyền lực. Do đó, trong thời gian tới cần thực hiện quyết liệt hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát, từ đó mới nâng cao được hiệu quả kiểm soát quyền lực./.

Duy Hưng – Chí Trung – Văn Thành

(Cơ quan UBKT Trung ương)