Cựu đệ nhất phu nhân Phi-líp-pin Imelda Marcos bị bắt giữ với tội danh tham nhũng - đến ngày trả giá

27/12/2018 | 10:46 AM

Xem với cỡ chữ

Ngày 9-11-2018, Tòa án chống tham nhũng đặc biệt Phi-líp-pin (Tòa Sandiganbayan) ra lệnh bắt giữ cựu đệ nhất phu nhân Imelda Marcos - người đồng thời là dân biểu đại diện tỉnh Ilocos Norte tại Hạ viện nước này, vì 7 tội danh tham nhũng trong thời gian chồng bà cầm quyền. Các công tố viên cáo buộc bà Imelda Marcos, vợ của nhà độc tài quá cố - Tổng thống Ferdinand Marcos, đã chuyển tổng cộng 200 triệu USD đến các quỹ bình phong ở Thụy Sĩ trong quãng thời gian 1975-1986.

Đáng chú ý, những lời buộc tội bà Imelda không phải dựa vào việc “ăn theo” ông chồng Tổng thống. Phán quyết của tòa nhấn mạnh, với vai trò là quan chức chính quyền, bà Imelda bị cấm có mối liên hệ tài chính với các quỹ tại Thụy Sĩ. Trong thời gian kể trên, đệ nhất phu nhân Imelda giữ các cương vị khá trọng trách là Bộ trưởng Các khu định cư (từ năm 1976 đến năm 1986), kiêm Thống đốc thủ đô Manila (từ năm 1978 đến năm 1984). Theo phán quyết của Tòa Sandiganbayan, bà Marcos còn bị loại vĩnh viễn khỏi các chức vụ công quyền.

Với mỗi tội danh, Tòa án Sandiganbayan phán quyết các mức án dành cho bà Marcos từ 6 - 11 năm tù giam, theo luật pháp Phi-líp-pin. Tổng hợp 7 tội danh, bà Marcos đối mặt mức án cao nhất lên tới 42 năm tù giam. Tuy nhiên, đối với một người ở độ tuổi 89, chẳng ai nghĩ bà Imelda sẽ bị tòa kết án tới mức như vậy. Bà Imelda được phép đóng tiền bảo lãnh tại ngoại và cũng có thể kháng nghị lên Tòa án tối cao. Vấn đề là vụ án đã bị “treo” 27 năm ở tòa án chống tham nhũng, từ tháng 12-1991, khi Văn phòng Công tố nộp hồ sơ vụ kiện bà Marcos. Diễn biến mới cho thấy quyết tâm của Chính phủ Phi-líp-pin trong việc đẩy mạnh chống tham nhũng trước đòi hỏi của dư luận. Trước đó, kể từ năm 1986, bà Marcos liên tục phải đối mặt hàng chục vụ kiện tham nhũng. Tuy nhiên, bà phủ nhận mọi cáo buộc và kháng cáo thành công nhiều vụ kiện.

Vụ bắt giữ bà Imelda Marcos khơi dậy trong dư luận Phi-líp-pin ký ức và những lời bàn tán về những mánh khóe siêu tham nhũng một thuở của vợ chồng cựu Tổng thống Ferdinand Marcos. Lên giữ cương vị Tổng thống vào năm 1965, với lời hứa hẹn trước người dân sẽ tích cực đấu tranh chống tham nhũng, trong nhiệm kỳ đầu, ông Ferdinand Marcos có nỗ lực trong việc phát triển hạ tầng (đường sá, cầu cống, nhà máy điện, nhà máy nước và công trình công cộng), nâng cao vị thế của Phi-líp-pin trên trường quốc tế. Tuy nhiên, từ khi tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ 2 (1969-1973), các chính sách “vung tay quá trán” tốn kém mà không hiệu quả của ông Marcos làm cho bội chi ngân sách, nợ công cùng lạm phát ngày một tăng cao, kinh tế - xã hội ngày càng bất ổn. Nhưng sau khi củng cố được quyền lực tuyệt đối bằng cách đặt đất nước trong tình trạng thiết quân luật, ông Marcos chỉ tính tới chuyện tư lợi. Khi đã “vào guồng”, Tổng thống tìm cách vơ vét không chỉ tiền mặt mà còn cả các công ty lớn với bất kỳ thủ đoạn nào. Như khi ông ta “thích” Công ty Meralco, chủ nhân là Eugenio Lopez, một trong những thương gia giàu nhất Phi-líp-pin khi đó, con trai thương gia này bị buộc tội âm mưu ám sát Tổng thống với nguy cơ phải nhận mức án nhẹ nhất cũng vài chục năm tù. Tổng thống khoan hồng đề xuất với Lopez một thỏa thuận: Để đổi lấy việc con trai không bị buộc tội, ông ta phải nhượng lại công ty của mình với giá vài triệu USD (thay vì vài trăm triệu USD trên thực tế). Marcos bòn vét cả tiền bồi thường chiến tranh từ Nhật Bản, các khoản hỗ trợ kinh tế từ Mỹ, cũng như chẳng e ngại lấy luôn các khoản tín dụng phát triển do các ngân hàng quốc tế cung cấp cho Phi-líp-pin.

Theo báo chí phanh phui, tính ra cứ mỗi tuần, các nhân viên ngân hàng lại chở tới dinh Tổng thống nhiều bao tải tiền mặt trước khi chúng được chuyển ra nước ngoài. Chỉ tính tại Thụy Sĩ, nhà Marcos có 69 tài khoản khác nhau. Hiện vẫn chưa thể làm rõ có bao nhiêu nhà và căn hộ mà cặp vợ chồng này sở hữu trên khắp thế giới. Như chỉ riêng tại khu Manhattan (New York, Mỹ), đã có 4 tòa nhà chọc trời thuộc về gia đình Marcos. Đó là chưa kể tới hàng chục máy bay tư nhân, trực thăng, siêu xe Mercedes cùng nhiều phương tiện vận tải sang trọng khác. Nhà Marcos còn rất say mê việc sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật. Trong bộ sưu tập của họ có hàng chục kiệt tác hội họa của Michelangelo, Goya, Monet, Manet, Pissarro v.v…

Trong khi Tổng thống Marcos đau đầu nghĩ cách làm tiền, bà vợ Imelda lại quan tâm đến điều hoàn toàn ngược lại – làm sao tiêu xài cả núi tiền họ kiếm được. Năm 1983, chỉ trong 2 ngày dạo qua các cửa hàng tại New York, bà Imelda “đốt” gần 5 triệu USD. Có rất nhiều huyền thoại về sự xa hoa, hoang phí của nguyên đệ nhất phu nhân, nhiều điều tới giờ vẫn chưa thể xác định đâu là sự thật, đâu là bịa đặt. Người Phi-líp-pin vẫn kể với nhau rằng, bà Imelda không dùng giấy vệ sinh thông thường, thay vào đó là loại giấy đặc biệt làm bằng lụa mỏng, được dệt bằng tay. Nhưng phổ biến hơn cả vẫn là chuyện về ám ảnh muốn sở hữu những đôi giày đẹp. Đệ nhất phu nhân có cả nhà kho chứa giày với hơn ba nghìn đôi, trong khi thời điểm đó khoảng 40% người dân Phi-líp-pin phải đi chân đất. Sau khi hai vợ chồng chạy trốn sang Mỹ, tại cung điện của họ còn khoảng 1/3 số giày trên. Những người nhanh nhạy cho mở một bảo tàng giày, là nơi du khách có thể tận mắt chứng kiến những đôi giày được trang điểm bằng vàng và đá quý từng thuộc về đệ nhất phu nhân. Còn một đam mê tốn kém nữa là đồ trang sức. Đáng giá nhất trong số này phải kể đến chiếc vương miện đính 25 viên ngọc viền kim cương từng thuộc về Nikolai 2 - vị Sa hoàng cuối cùng của Nga, món đồ làm bà Imelda tốn 4 triệu USD.

Thời kỳ hoàng kim của vợ chồng Marcos chấm dứt ngày 25-2-1986, sau khi quân đội Phi-líp-pin tiến hành đảo chính với sự ủng hộ của dân chúng. Khi chạy trốn sang đất Mỹ tỵ nạn, số tài sản họ mang theo khiến các quan chức nước này choáng váng. “Có cảm tưởng như họ đã mang theo mình toàn bộ ngân sách của Phi-líp-pin. Vợ chồng ông Marcos mang theo 23 chiếc rương gỗ chứa đầy những đồ quý hiếm; 12 chiếc vali và túi xách lớn; hàng trăm hộp quần áo đủ các nhãn hiệu; hơn 400 món đồ trang sức cùng rất nhiều vàng” – một nhân viên hải quan Mỹ, người đã cùng các đồng nghiệp làm thủ tục cho vợ chồng Marcos tại Hawaii cho biết. Hải quan Mỹ cần tới 23 tờ giấy để kê hết những món đồ mà gia đình nhà cựu độc tài mang khỏi Phi-líp-pin. Chưa kể họ còn mang theo 27 triệu peso Phi-líp-pin tiền mặt, theo tỷ giá lúc đó vào khoảng 15 triệu USD. Trong khi vào thời điểm đó, gần nửa dân số Phi-líp-pin chỉ sống với mức chi phí chưa đầy 2 USD/ngày. Theo ước tính của các chuyên gia, Tổng thống Ferdinand Marcos và gia đình chiếm đoạt của người dân Phi-líp-pin 10 tỷ USD trong thời gian 21 năm đương nhiệm (1965-1986), nhưng nhà chức trách nước này mới chỉ thu hồi được chưa đầy 1 tỷ USD.

Một góc bảo tàng giày Imelda Marcos tại thu đô Manila của Phi-líp-pin- dấu tích quá khứ một thời tham nhũng của gia đình nhà Marcos.

Ông Marcos qua đời nơi đất khách năm 2019. Qua hơn 30 năm, sự phẫn nộ của công chúng lắng xuống, khi hơn một nửa dân số Phi-líp-pin bây giờ chào đời sau ngày chế độ cầm quyền của Marcos chấm dứt. Con cái họ, thậm chí cả bà lão cựu đệ nhất phu nhân quay về đất nước, hiện tham gia chính trường, thậm chí còn mơ đến cái ghế ông Marcos ngồi ngày nào. Tuy nhiên, việc bà Imelda bị bắt với tội danh tham nhũng làm khơi dậy quá khứ tối tăm, có thể đặt dấu chấm hết cho tham vọng này. Giới phân tích cho biết, Tổng thống Phi-líp-pin đương nhiệm Rodrigo Duterte vốn có mối quan hệ tốt với gia đình Marcos, nhưng phán quyết của Tòa án Sandiganbayan là minh chứng về việc Tổng thống đã không can thiệp hay gây áp lực lên tòa án. Phán quyết này được tôn trọng, cho thấy một sự dứt khoát hơn trong phòng, chống tham nhũng tại Phi-líp-pin./.

Phương Linh