Cách mạng công nghiệp 4.0 và áp dụng tại các cơ quan Đảng Trung ương

30/12/2019 | 08:42 AM

Xem với cỡ chữ

Ngày 27-9-2019 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Nghị quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

1-Vai trò của cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (Cách mạng công nghiệp 4.0) là kỷ nguyên công nghiệp lớn lần thứ tư kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lần đầu tiên từ thế kỷ XVIII, trong đó cụm từ "cách mạng công nghiệp" hàm chứa sự thay đổi lớn lao, không chỉ biến đổi kinh tế mà cả văn hóa, xã hội một cách toàn diện.

Trong lịch sử, con người đã chứng kiến 3 cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (từ 1784) diễn ra khi loài người phát minh động cơ hơi nước, tác động trực tiếp đến các ngành nghề như dệt may, chế tạo cơ khí, giao thông vận tải; động cơ hơi nước được đưa vào ôtô, tàu hỏa, tàu thủy, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (từ 1870) đến khi loài người phát minh ra động cơ điện, mang lại cuộc sống văn minh, năng suất tăng nhiều lần so với động cơ hơi nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba (từ 1969) xuất hiện khi con người phát minh ra bóng bán dẫn, điện tử, kết nối thế giới liên lạc được với nhau. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay chúng ta thụ hưởng là từ cuộc cách mạng này.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra từ những năm 2000 gọi là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)... để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể được mô tả như là sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học, và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp. Trung tâm đến cuộc cách mạng này đang nổi lên những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3D, và công nghệ nano.

Trong Nghị quyết 52-NQ/TW, Bộ Chính trị đưa ra một số quan điểm chỉ đạo, trong đó nêu rõ, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội; xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp. Đồng thời, phát huy tối đa các nguồn lực, bảo đảm đủ nguồn lực cho việc chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Xác định nguồn lực bên trong là quyết định, chiến lược, cơ bản lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của toàn xã hội. Nghị quyết cũng đưa ra mục tiêu tổng quát là tận dụng có hiệu quả các cơ hội do Cuộc cách mạng lần thứ 4 đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hóa đất nước. Cùng với đó, phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.

Bộ Chính trị đưa ra 8 chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trong đó đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.  

2- Việc áp dụng Nghị quyết 52-NQ/TW tại các cơ quan Trung ương Đảng

Trên cơ sở Kết luận ngày 10-6-1997 của Thường vụ Bộ Chính trị theo Thông báo số 75-TB/TW về việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các cơ quan Trung ương Đảng và các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Ban Bí thư đã ký Quyết định số 47-QĐ/TW ngày 06-8-2002 ban hành Đề án tin học hóa hoạt động của cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 (Đề án 47). Sau khi Đề án 47 kết thúc, Ban Bí thư đã ra Quyết định 06-QĐ/TW ban hành Đề án tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2011 (Đề án 06). Chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng qua các đề án đã thể hiện rõ, đó là ứng dụng CNTT để góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương. Trên cơ sở Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 1-7-2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, Quyết định số 260-QĐ/TW ngày 1-10-2014 của Ban Bí thư phê duyệt Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2015-2020. Triển khai thực hiện các đề án và Chương trình 260, các cơ quan Đảng nói chung và Ngành Kiểm tra Đảng đã tích cực triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của mình và đến nay đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ.

Thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị, trên tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT tại các cơ quan Trung ương Đảng thời gian tới cần tiếp tục triển khai trên một số mặt cụ thể sau:

Một là, tham gia vào trục liên thông văn bản quốc gia. Trục liên thông văn bản quốc gia là tiền đề của nền tảng tích hợp dữ liệu phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số. 95/95 cơ quan ở Trung ương và địa phương (gồm Văn phòng Trung ương Đảng; 31 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) đã hoàn thành kết nối các hệ thống quản lý văn bản và điều hành trên Trục liên thông văn bản quốc gia.

Các phần mềm quản lý văn bản của bộ, ngành, địa phương đã được kết nối, liên thông cả theo chiều dọc và chiều ngang một cách thông suốt và có tính hệ thống, văn bản điện tử được gửi, nhận nhanh chóng, an toàn giữa các cơ quan nhà nước. Hiện nay, Văn phòng Trung ương Đảng đang xây dựng phương án kết nối, gửi nhận văn bản giữa các cơ quan Đảng với Văn phòng Chính phủ thông qua trục liên thông văn bản quốc gia.

Việc kết nối, gửi nhận văn bản có thể mô tả như sau:

- Các cơ quan Đảng ở Trung ương cũng như các tỉnh ủy, thành ủy muốn gửi văn bản (từ Lotus Notes) sang Văn phòng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh, thành phố thì sẽ qua hệ thống trung gian đặt tại Trung tâm miền. Hệ thống này sẽ định tuyến, chuyển văn bản điện tử từ hệ thống quản lý văn bản và điều hành của cơ quan gửi tới hệ thống quản lý văn bản và điều hành trục liên thông văn bản quốc gia. Tại đây, Văn phòng Chính phủ, các cơ quan Bộ… sẽ kết nối vào trục văn bản liên thông quốc gia để nhận văn bản.

- Chiều ngược lại, các cơ quan Nhà nước muốn gửi văn bản cho các cơ quan Đảng sẽ gửi lên trục liên thông văn bản quốc gia. Tại đây, máy chủ trung tâm miền sẽ kết nối tới trục văn bản liên thông quốc gia để lấy văn bản về và định tuyến chuyển tiếp tới nơi nhận.

Hai là, chứng thực điện tử và chữ ký số. Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ xây dựng hệ thống chứng thực điện tử, chữ ký số, bảo đảm việc chứng thực, ký số nhanh chóng, thuận tiện trên mạng thông tin diện rộng của Đảng. Hệ thống chứng thực được đặt tại Văn phòng Trung ương Đảng kết nối, đồng bộ sang Ban Cơ yếu Chính phủ, các cơ quan đảng trong mạng thông tin diện rộng của Đảng kết nối với Văn phòng Trung ương để sử dụng hệ thống chứng thực điện tử. Hiện nay, Văn phòng Trung ương Đảng và Ban Cơ yếu Chính phủ tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan Đảng đăng ký, tiếp nhận, quản lý chữ ký số của cá nhân và tổ chức để ứng dụng đồng bộ trong toàn hệ thống. Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã đào tạo, tập huấn về vai trò, mục đích, cách sử dụng chữ ký số cho toàn thể cán bộ, công chức và đã đăng ký, tiếp nhận chữ ký số cho một số vị trí, chức danh theo thẩm quyền ký.

Ba là, thiết kế, xây dựng các hệ thống thông tin và phần mềm ứng dụng theo hướng thống nhất. Văn phòng Trung ương Đảng hiện đang xây dựng Kiến trúc tổng thể công nghệ thông tin và truyền thông thống nhất trong các cơ quan Đảng. Mục đích là để tạo một mô hình thống nhất, làm căn cứ để các cơ quan Đảng đầu tư, xây dựng và khai thác các hệ thống thông tin phục vụ hoạt động nghiệp vụ, quản lý và điều hành; tăng cường kết nối liên thông, tích hợp, chia sẻ dữ liệu của các cơ quan Đảng như Hệ thống thông tin chuyên ngành Tổ chức Xây dựng Đảng, Hệ thống thông tin chuyên ngành Kiểm tra Đảng, nâng cao khả năng tận dụng hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu sẵn có; tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng trong khai thác thông tin…

Triển khai xây dựng các cơ sở dữ liệu cốt lõi như: Văn kiện Đảng, Hồ sơ đảng viên, Hồ sơ Cán bộ công chức các cơ quan Đảng, Mục lục hồ sơ kho lưu trữ… để làm cơ sở kết nối, liên thông dữ liệu cho các hệ thống thông tin chuyên ngành dùng chung dữ liệu. Đồng thời, xây dựng các cơ sở dữ liệu dùng chung như: Văn bản quy phạm pháp luật, Cán bộ công chức cơ quan Đảng, Cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; cơ sở dữ liệu về Đơn thư tố cáo, khiếu nại, dữ liệu về Văn bản và hồ sơ công việc, dữ liệu về Đề tài khoa học…
Xây dựng Cổng thông tin điện tử nội bộ của Đảng trên mạng diện rộng, Cổng thông tin điện tử của Đảng trên Internet, làm cơ sở cho việc tích hợp các hệ thống thông tin chuyên ngành và các ứng dụng dùng chung.

Bốn là, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. Các cơ quan Đảng tuân thủ nghiêm túc quy chế quản lý, sử dụng và bảo vệ mạng thông tin diện rộng của Đảng. Triển khai các hệ thống tường lửa, thiết bị phát hiện xâm nhập trái phép, phần mềm phòng chống virus. Phối hợp với các cơ quan chức năng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ,… định kỳ rà soát, kiểm tra hệ thống, tập huấn, hướng dẫn các nội dung liên quan tới bảo mật, an ninh, an toàn thông tin. Tiếp tục triển khai các giải pháp bảo mật, mã hóa của Ban Cơ yếu Chính phủ: bảo mật kênh truyền cho truyền hình hội nghị, mã hóa, chứng thực cho các hệ thống thông tin, thiết bị  USB an toàn DC02,…

Năm là, bảo đảm nguồn nhân lực triển khai ứng dụng CNTT. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn dưới các hình thức, phương thức khác nhau (trực tiếp, trực tuyến, dài hạn, ngắn hạn…) với các nội dung kỹ thuật chuyên sâu cho cán bộ kỹ thuật và rèn luyện kỹ năng sử dụng cho cán bộ, công chức các cơ quan Đảng sử dụng các ứng dụng trên mạng thông tin diện rộng của Đảng và mạng Internet bảo đảm an ninh, an toàn thông tin./.  

Nguyễn Thị Ngọc

Vụ Nghiên cứu, Cơ quan UBKT Trung ương