Bài học về kê khai tài sản, thu nhập không trung thực

26/12/2019 | 10:24 AM

Xem với cỡ chữ

Xác định kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản là giải pháp quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng. Để phát huy tác dụng tích cực của việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản trong công tác phòng, chống tham nhũng, ngày 3-1-2014 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 33-CT/TW về sự tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản…Đảng đã có chủ trương và Nhà nước đã thể chế hóa thành những quy định để triển khai thực hiện. Song, trong thời gian vừa qua, việc kê khai tài sản vẫn còn mang tính hình thức; việc công khai bản kê khai tài sản chưa được thực hiện nghiêm túc; các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền chưa chủ động tiến hành xác minh tài sản của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc diện phải kê khai; công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định về kê khai tài sản còn hạn chế. Một trong những vụ việc đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập cá nhân nhưng đã xem nhẹ, nên vi phạm đã bị Đảng bộ Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh phát hiện, kiểm tra, xử lý nghiêm theo quy định, đó là:

Từ kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT Huyện ủy, ngày 26-12-2018 Ban Thường vụ Huyện ủy Dương Minh Châu (Tây Ninh) đã xem xét và ban hành Quyết định khai trừ ra khỏi Đảng đối với Trần Thanh Dũng, đảng viên, Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện. Đồng thời, ngày 17-1-2019 UBND huyện Dương Minh Châu cũng ban hành Quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện đối với ông. Không đồng ý với quyết định thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng, ông Dũng gửi đơn khiếu nại đến UBKT Tỉnh ủy.

Hồ Dầu Tiếng, Dương Minh Châu, Tây Ninh

Kết quả thẩm tra, xem xét giải quyết khiếu nại kỷ luật của UBKT Tỉnh ủy cho thấy trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, ông Dũng có nhiều tài sản, thu nhập không được kê khai, cập nhật hằng năm vào bản kê khai tài sản theo quy định, cụ thể: Mảnh đất thửa số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 148m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) số H01335, cấp ngày 4-4-2007; mảnh đất thửa số 57, tờ bản đồ số 13, diện tích 117m2 theo GCN QSDĐ số CH0363, cấp ngày 3-5-2013; mảnh đất thửa số 49, tờ bản đồ số 11, diện tích 49m2 theo GCN QSDĐ số H02522, cấp ngày 13-2-2008; mảnh đất thửa số 01, tờ bản đồ số 12, diện tích 1085m2 theo GCN QSDĐ số H02720, cấp ngày 8-7-2009, cả 4 mảnh đất trên đều ở thị trấn Dương Minh Châu, huyện Dương Minh Châu. Giải trình nguồn gốc hình thành tài sản không đúng thực tế đối với mảnh đất thửa số 472, tờ bản đồ số 25, diện tích 130,7m2 theo GCN QSDĐ số CH02302, cấp ngày 7-1-2016 tọa lạc tại ấp Đá Hàng, xã Hiệp Thạnh, Gò Dầu; ông kê khai tài sản là đất cha mẹ cho, nhưng thực tế là mua của ông Vũ Minh Đăng; ông giải trình do mua bằng tiền cha mẹ cho nên khai là đất cha mẹ cho.

Bên cạnh đó, ông Dũng không kê khai nhiều tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên theo quy định: Xe SH Mode mua năm 2016 (trị giá 60 triệu đồng); 1 căn nhà gỗ cột căm xe, diện tích 40 m2, mua năm 2017 (trị giá 150 triệu đồng); 1 bộ salon gỗ cẩm lai cột 14, mua năm 2000 (trị giá 200 triệu đồng); 2 bộ ván gỗ bênh mua năm 2000 (trị giá 160 triệu đồng). Ông Dũng giải trình lý do không khai, vì thời điểm mua các loại tài sản không đến 50 triệu đồng; riêng căn nhà gỗ gắn liền với nhà đang ở, nghĩ rằng đã khai căn nhà, nên không cần khai thêm căn nhà gỗ. Và việc kê khai thu nhập hằng năm không khớp nhau, nhiều năm sự chênh lệch giữa 2 bản kê khai đến hàng trăm triệu đồng.

Việc ông Dũng không kê khai tài sản; không giải trình đầy đủ những biến động, nguồn gốc hình thành tài sản của mình theo quy định tại mục III bản kê khai tài sản, thu nhập cá nhân hằng năm là vi phạm Khoản 2, Điều 25, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP, ngày 17-7-2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập “Trường hợp có sự không phù hợp  giữa kết quả xác minh và bản kê khai thì kết luận không trung thực” và Điểm a, Khoản 2, Điều 13 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP “Kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm không trung thực, không đầy đủ, không kịp thời;…”. Căn cứ vào Hướng dẫn số 03/HD-UBKTTW, ngày 15-3-2012 của UBKT Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định số 47/QĐ-TW, ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, ông Dũng đã vi phạm Điểm a, Khoản 2, Điều 13 “Không thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; kê khai không đúng, không đầy đủ tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về số lượng, chủng loại, giá trị, đặc điểm và biến động của tài sản, thu nhập”… Do đó, theo Điểm e, Khoản 2, Điều 16 Quy định số 102/QĐ-TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm “Kê khai tài sản và giải trình về biến động tài sản, nguồn gốc tài sản không trung thực”, ông Dũng đã bị xử lý kỷ luật hình thức“Cảnh cáo”. Tuy nhiên, quá trình kiểm tra ông Dũng không tự giác giải trình, kê khai tài sản thu nhập của mình theo quy định, nội dung nào bị phát hiện thì mới giải trình, trong giải trình không rõ ràng, thiếu thống nhất, không hợp lý…; trong kiểm điểm xem xét xử lý kỷ luật thiếu sự hợp tác, không nhìn nhận khuyết điểm để sửa chữa, vẫn biện minh chưa nắm rõ quy định nên kê khai tài sản, thu nhập chưa đúng và kê khai không thống nhất là do nhầm lẫn… Tại cuộc làm việc giữa đại diện Ban Thường vụ Huyện ủy với đảng viên trước khi bị xem xét xử lý kỷ luật theo quy định, ông Dũng nói:“…sai phạm chỉ ở mức độ rút kinh nghiệm, còn kỷ luật là chuyện của UBKT huyện ủy” và tự ý bỏ về không ký tên vào biên bản… Với những tình tiết tăng nặng trên, Ban Thường vụ Huyện ủy Dương Minh Châu đã áp dụng Điểm b, Khoản 2, Điều 4 Quy định số 102/QĐ-TW “Quanh co, che giấu hoặc không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm” để xử lý kỷ luật ông Dũng bằng hình thức “khai trừ ra khỏi Đảng”.

Không những vi phạm nghiêm trọng trong việc kê khai tài sản thu nhập theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quá trình công tác ông Dũng còn thực hiện chưa tốt nhiệm vụ của người đảng viên, công chức, như: tự ý bỏ về khi đang học Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII; vắng mặt không lý do tại kỳ họp của HĐND huyện Dương Minh Châu để trả lời chất vấn theo sự phân công; năm 2017 xếp loại công chức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực nhưng không sửa chữa lại tiếp tục để sai sót trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn năm 2018… Do đó khi HĐND huyện bỏ phiếu tín nhiệm, ông dũng bị 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp, HĐND huyện phải tiến hành bỏ phiếu lần 2 nhưng tỷ lệ phiếu tín nhiệm thấp còn cao hơn (82,76%). Vào thời điểm UBKT Tỉnh ủy xem xét giải quyết khiếu nại, UBND huyện Dương Minh Châu đã ban hành quyết định cho ông Dũng thôi việc theo nguyện vọng và được hưởng chế độ, chính sách theo quy định…

Từ kết quả thẩm tra trên, căn cứ tính chất, mức độ vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tinh thần Chỉ thị số 28/CT-TW, ngày 21-1-2019 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi đảng… UBKT Tỉnh ủy đã quyết định giữ nguyên hình thức kỷ luật “Khai trừ” đối với ông Dũng.

Vụ việc trên là bài học cho những cán bộ, đảng viên xem nhẹ trách nhiệm kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật và quy định của Đảng. Là bài học cho các cấp ủy trong việc tăng cường lãnh đạo, mà trước hết là hướng dẫn đảng viên kê khai và cập nhật bổ sung tài sản, thu nhập của cá nhân hằng năm, đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát để các đối tượng trong diện phải kê khai thực hiện nghiêm túc việc kê khai, giải trình đúng, đủ, rõ ràng về số lượng, giá trị, nguồn gốc… tài sản, thu nhập của bản thân theo quy định của pháp luật và của Đảng. Đây cũng là bài học cho mọi đảng viên trong việc chủ động tự giác nhìn nhận khuyết điểm, sai phạm để khắc phục, sữa chữa, nhất là những đảng viên trẻ, cơ hội cống hiến, phấn đấu còn dài để được tổ chức đảng xem xét xử lý với phương châm phòng ngừa, giáo dục là chính. Nhà nước sớm nghiên cứu áp dụng các biện pháp hỗ trợ công tác kiểm soát việc kê khai tài sản, hạn chế chi tiêu bằng tiền mặt… như yêu cầu tại Chỉ thị số 33-CT/TW của Bộ Chính trị./.

Trịnh Nhất