Bắc Giang kiểm tra, giám sát đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

05/02/2020 | 07:42 AM

Xem với cỡ chữ

(Đồng chí Lê Thị Thu Hồng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Giang trả lời phỏng vấn của Tạp chí Kiểm tra)

Phóng viên: Thời gian qua, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang có những bước phát triển toàn diện, đồng chí cho biết một số kết quả nổi bật đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020 đến nay?

Đồng chí Lê Thị Thu Hồng: Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương; Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành đồng bộ nhiều nghị quyết, chỉ thị về kinh tế - xã hội như: Nghị quyết số 73, ngày 6-5-2016 của Tỉnh ủy về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020; Nghị quyết số 113, ngày 22-7-2016 của Tỉnh ủy về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 138, ngày 1-9-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030… và tập trung cao, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đạt kết quả toàn diện trên các mặt, nổi bật:

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh luôn ở mức cao, bình quân giai đoạn 2016 - 2018 đạt 13,3%/năm, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (mục tiêu Đại hội đề ra tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 10-11%/năm); năm 2019 là năm thứ hai liên tiếp kinh tế của Bắc Giang tăng trưởng hơn 16% và thuộc nhóm các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước, ước đạt 16,2%. Quy mô nền kinh tế ngày càng tăng, GRDP năm 2019 đạt hơn 106.750 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 4,6 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm 2018 và gấp gần 2 lần so với năm 2015. Năm 2019, giá trị xuất khẩu ước đạt 8,6 tỷ USD, gấp 2,4 lần; thu ngân sách đạt hơn 11 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1 lần năm 2016.

Sản xuất nông nghiệp có chuyển biến mạnh mẽ. Hình thức tổ chức sản xuất quy mô lớn, hợp tác liên kết theo chuỗi giá trị tiếp tục tăng; các quy trình sản xuất tiên tiến như VietGAP, Global GAP, ứng dụng công nghệ cao... được phổ biến và nhân rộng. Giá trị sản xuất trên 1ha đất nông nghiệp đạt 105 triệu đồng. Một số sản phẩm nông sản của tỉnh có quy mô lớn như: Vải thiều đứng thứ nhất, tổng đàn lợn đứng thứ ba, đàn gia cầm đứng thứ tư toàn quốc.

Phong trào xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật, là điểm sáng của các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Toàn tỉnh hiện có 114 xã đạt chuẩn (chiếm 55,9%), gấp 2,3 lần năm 2016; có 1 huyện và thành phố Bắc Giang hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới; huyện Lạng Giang dự kiến về đích huyện nông thôn mới năm 2019, trước 1 năm so kế hoạch. Đặc biệt với chính sách hỗ trợ cứng hóa giao thông nông thôn của tỉnh đã tạo nên phong trào mạnh mẽ chưa từng có, thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn; sau hơn 2 thực hiện, đến nay tỉnh đã lồng ghép, bố trí, huy động được trên 5.670 tỷ đồng, thực hiện cứng hóa được gần 4.760 km đường các loại, vượt 123,6% mục tiêu đề ra.

Môi trường đầu tư kinh doanh liên tục được cải thiện, huy động được nhiều nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, tỉnh đã thu hút 1.215 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký gần 85 nghìn tỷ đồng; 436 dự án FDI, vốn đăng ký trên 5,2 tỷ USD. Riêng năm 2019 thu hút được hơn 1 tỷ USD vốn FDI, đứng thứ 6 toàn quốc.

Các lĩnh vực xã hội phát triển toàn diện. Giáo dục và đào tạo nằm trong tốp đầu cả nước, 100% trẻ em được đến trường đúng độ tuổi, không còn tình trạng mù chữ; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi sớm 01 năm, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 vượt 4 năm so với kế hoạch. Đã xóa cơ bản hủ tục văn hóa lạc hậu trên địa bàn. Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 98,3%, tăng 7,4%;  tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia là 89,8%, tăng 8,5%. Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội đạt kết quả tích cực, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 11,9% năm 2016 xuống còn 5,05% năm 2019.

Phóng viên: Đồng chí cho biết vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong công tác xây dựng Đảng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh?

Đồng chí Lê Thị Thu Hồng: Đạt được những kết quả nổi bật về kinh tế - xã hội nêu trên có vai trò và sự đóng góp quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành kịp thời, đầy đủ các văn bản lãnh đạo về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ như: Chỉ thị số 06-CT/TU ngày 31-3-2016 về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong Đảng bộ tỉnh giai đoạn 2016-2020; Đề án số 01-ĐA/TU ngày 14-7-2016 về nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của cấp cơ sở trong Đảng bộ tỉnh giai đoạn 2016 - 2020; Quy định số 397-QĐ/TU ngày 9-3-2018 về chế độ báo cáo các cuộc kiểm tra, thanh tra trên địa bàn tỉnh; Thông báo số 282, ngày 25-12-2017 của Thường trực Tỉnh uỷ tại Hội nghị đánh giá công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, công tác thanh tra Nhà nước trên địa bàn; các quy trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát... Ban hành Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa, kế hoạch kiểm tra, giám sát hằng năm và tổ chức thực hiện hoàn thành 100% kế hoạch, bảo đảm chất lượng, tiến độ. Nội dung tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm vừa thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị, vừa góp phần phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm, như việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh và các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kết luận của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các Nghị quyết Trung ương 4, 5, 6 khóa XII và Chỉ thị 05, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị; công tác quản lý đất đai; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý tài chính, ngân sách; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; quy chế làm việc; công tác tổ chức cán bộ,... Chỉ đạo UBKT các cấp triển khai thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao, trọng tâm là kiểm tra dấu hiệu vi phạm; quan tâm củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra. Chỉ đạo UBKT và các cơ quan liên quan thực hiện tốt việc phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; rà soát, đôn đốc thực hiện các kết luận, quyết định sau thanh tra, kiểm tra, giám sát...

Qua công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần thúc đẩy việc tổ chức thực hiện nghị quyết, sớm đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; đồng thời, kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số chủ trương, nghị quyết đã ban hành phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo đảm thực hiện đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra. Thông qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã xử lý kỷ luật 35 tổ chức đảng, 1.376 đảng viên; UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật 309 đảng viên vi phạm, đưa ra khỏi tổ chức những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, giữ gìn nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng, làm trong sạch các tổ chức đảng, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, góp phần lãnh đạo đạt kết quả toàn diện các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian qua.

Phóng viên: Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ, thời gian tới Đảng bộ cần tập trung vào những giải pháp quan trọng nào?

Đồng chí Lê Thị Thu Hồng: Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ giải pháp như sau:

1. Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, quy định, chỉ thị, hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp và cán bộ, đảng viên.

2. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định của các cấp ủy phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Trên cơ sở quy định, hướng dẫn của Trung ương, kịp thời cụ thể hóa thành cơ chế kiểm tra, giám sát đối với công tác cán bộ, thực thi quyền lực của người có chức, có quyền để chống chạy chức, chạy quyền, chạy khen thưởng, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm”. Khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của địa phương. Có cơ chế phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, truyền thông, báo chí và nhân dân đối với công tác kiểm tra, giám sát.

3. Chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của nhiệm kỳ và hằng năm phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, đơn vị. Trong đó, xác định lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm để tập trung kiểm tra, giám sát, chú ý những khâu, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực như: Công tác cán bộ, cán bộ làm nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, tài chính, tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản,… Trước mắt, cần tập lãnh đạo giải quyết tốt những vụ việc tồn đọng, kéo dài, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trước khi tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

4. Chỉ đạo UBKT chủ động phối hợp với ngành dọc cấp trên và các cơ quan ngang cấp để tăng cường nắm bắt thông tin đa chiều, phục vụ hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, trước hết là cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp mình quản lý, chủ động phát hiện và kịp thời kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.

Từ nay đến hết năm 2020, UBKT các cấp tập trung thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát phục vụ đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025; kịp thời nắm tình hình các tổ chức đảng có biểu hiện khó khăn, phức tạp, nhất là giải quyết kịp thời các đơn, thư tố cáo liên quan đến nhân sự trước đại hội để kịp thời tham mưu với cấp ủy chỉ đạo, góp phần tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp.

5. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả sự phối hợp và cơ chế thông tin liên ngành giữa UBKT các cấp với các cơ quan liên quan, nhất là các ban xây dựng Đảng, thanh tra nhà nước, công an, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân; đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa UBKT với hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử, ủy ban mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

6. Quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan UBKT các cấp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, có đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra trong toàn Đảng bộ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác kiểm tra, giám sát trong toàn Đảng bộ gắn với cải cách thủ tục, lề lối làm việc./.

Trọng Đức (thực hiện)