50 năm Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vẫn nóng hổi tính thời sự về công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng

09/05/2019 | 14:33 PM

Xem với cỡ chữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời chí khí cách mạng, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trước lúc đi xa Người để lại bản Di chúc – một văn kiện lịch sử vô giá cả về lý luận và thực tiễn. Lời di huấn của Người mộc mạc, giảm dị, nhưng ân cần, sâu lắng. Từ những định hướng khôi phục, phát triển đất nước sau chiến tranh; quan tâm, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên… Trong công tác xây dựng Đảng, Người viết: “Theo ý tôi, việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Lời căn dặn của Người vẫn luôn nóng hổi và mang tính thời sự trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc từ tháng 5 - 1965, khi Người ở tuổi 75. Sau đó, Người tiếp tục bổ sung vào tháng 5 - 1968 và hoàn chỉnh vào tháng 5 - 1969. Bản Di chúc của Người với những lời căn dặn thân yêu, thiết thực, cụ thể đề cập đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Mỗi việc trong Di chúc Người viết gắn gọn, vắn tắt nhưng là những định hướng chiến lược về phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước sau chiến tranh; sự đoàn kết và chăm lo xây dựng Đảng, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; chăm lo, quan tâm đến các gia đình chính sách thương binh, liệt sỹ, cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong, đến mọi tầng lớp nhân dân từ các cụ phụ lão, đến các cháu thanh niên, nhi đồng… thể hiện rõ tình thương yêu bao la, rộng lớn của Người đối với Đảng, với đất nước, dân tộc và nhân dân.

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu, nếu không chỉnh đốn Đảng sẽ dễ “sinh bệnh chủ quan, kiêu ngạo” khi đã có những thành quả cách mạng. Chính vì vậy Người luôn quan tâm, chú trọng rèn luyện Đảng bằng việc giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên như là công việc gốc của Đảng.

Ngay sau những lời đầu trong bản Di chúc Người đã đề cập tới Đảng.  “Trước hết nói về Đảng”, Người nhấn mạnh về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình trong Đảng; giáo dục, trau dồi đạo đức cách mạng trong Đảng; thường xuyên chỉnh đốn Đảng để tránh những thiếu sót, sai lầm trong Đảng…

Về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Người nêu rõ: Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác. “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Bác nhấn mạnh đoàn kết trong Đảng vì đó là nguồn gốc sức mạnh của Đảng, đồng thời phòng ngừa sự chia rẽ, bè phái, làm suy yếu và mất sức chiến đấu của Đảng. Hơn nữa, trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng. Phải thực hiện tự phê bình và phê bình để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm làm cho Đảng mạnh lên, phải có động cơ, thái độ tự phê bình và phê bình đúng đắn vì sự phát triển và vững mạnh của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, để tạo thành sức mạnh, đoàn kết, thống nhất phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Đồng thời, Người luôn căn dặn phải chú trọng trau dồi đạo đức cách mạng cho mỗi đảng viên, đồng thời ngăn ngừa sự suy thoái trong Đảng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thực sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người hết sức coi trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân và những tiêu cực, thoái hóa, hư hỏng trong Đảng. Bên cạnh đó, Người cũng căn dặn cần quan tâm, chú trọng bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm cần thiết. Trong Di chúc Người nêu rõ: Đoàn viên và thanh  niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”…

Đặc biệt, tháng 5- 1968, khi viết tiếp Di chúc Người căn dặn: Ngay sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc phải cần làm trước tiên là “chỉnh đốn lại Đảng”, làm cho mỗi đảng viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thăng lợi.

Thực hiện Di chúc của Người trong 50 năm qua, nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố; đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt. Tinh thần tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng được thực dân chủ, nghiêm túc.

Đại hội XII của Đảng đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, đồng bộ, trong đó nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, với trọng tâm là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, cũng đã chỉ rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Trong đó nhấn mạnh sự nguy hiểm về phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ hoạ theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân… để từ đó mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải “tự soi, tự sửa” khi có những biểu hiện suy thoái.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, từ đầu nhiệm kỳ đến nay công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực ngăn ngừa suy thoái tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng. Ngành Kiểm tra Đảng đã tăng cường chỉ đạo, chủ động, quyết liệt, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm; tập trung lựa chọn đối tượng, lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh vi phạm, những vấn đề bức xúc mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm để tiến hành kiểm tra, giám sát; kết luận, làm rõ nhiều vi phạm, trên cơ sở đó quyết định hoặc đề nghị thi hành kỷ luật nghiêm minh, chính xác, kịp thời đối với nhiều tổ chức và cá nhân vi phạm. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng và 35 nghìn đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái.

Đặc biệt, UBKT Trung ương đã kiểm tra làm rõ nhiều vụ việc sai phạm đặc biệt nghiêm trọng, quyết định kỷ luật và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị; kỷ luật cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, cả trong lực lượng vũ trang, đã xử lý kỷ luật 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Cùng với đó, các cơ quan Thanh tra, Kiểm toán tập trung thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, nhất là các dự án gây thất thoát, thua lỗ lớn, kéo dài, dư luận xã hội quan tâm. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước gần 170.000 tỷ đồng, hơn 12.000 ha đất; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hơn 300 văn bản quản lý nhà nước không còn phù hợp trên các lĩnh vực; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm điểm trách nhiệm nhiều tập thể, cá nhân sai phạm, chuyển gần 200 vụ việc sang cơ quan có thẩm quyền để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã tổ chức 31 Đoàn kiểm tra, giám sát việc thanh tra các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế tại 63 tỉnh, thành phố. Qua kiểm tra, giám sát đã kiến nghị chỉ đạo xử lý 452 vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn; có lý, có tình, thể hiện rõ quan điểm “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền”, góp phần nâng cao uy tín, sức chiến đấu của Đảng và cũng là biện pháp cảnh tỉnh, răn đe có hiệu quả…

Từ những kết quả trên cho thấy, 50 năm qua thực hiện Di chúc của Người  công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt trong công tác ngăn ngừa phòng, chống suy thoái; chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường sức mạnh tổ chức và tính kỷ luật của Đảng, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, đạo đức, trí tuệ, uy tín và năng lực tổ chức, lãnh đạo. Không ngừng phấn đấu để thực hiện trọn vẹn những lời di huấn thiêng liêng của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Nguyễn Trọng Thành