Trả lời bạn đọc tháng 8-2017

05/09/2017 | 15:00 PM

Xem với cỡ chữ

1-Hỏi: Đảng viên A đang có vợ mà sống chung như vợ chồng với người phụ nữ khác, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm.

Vấn đề này xử lý thế nào?

Trả lời:

- Điều 17, Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm quy định đảng viên không được:

"…có hành vi bạo lực trong gia đình, vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, sống chung với người khác như vợ chồng…".

- Điểm a, Khoản 3, Điều 23, Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, quy định trường hợp kỷ luật khai trừ đảng viên:

"Vi phạm quy định về kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng".

Như vậy, đảng viên A đã vi phạm Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương và Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị nên cần phải được xem xét, xử lý nghiêm minh. Tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ kết quả kiểm điểm của đảng viên A, nội dung, tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả đã xảy ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

2-Hỏi: Đảng viên A bị tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Trong quá trình kiểm tra, đảng viên A đã nghiêm túc, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm và chủ động khắc phục, hậu quả xảy ra.

Vậy, tổ chức đảng có thẩm quyền có thể giảm nhẹ hình thức kỷ luật đối với đảng viên A không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 3, Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định về những tình tiết được xem xét giảm nhẹ mức độ xử lý vi phạm như sau:

 "Chủ động báo cáo vi phạm của mình với tổ chức, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm trước khi bị phát hiện".

Căn cứ quy định và trường hợp câu hỏi trên, đảng viên A trong quá trình kiểm tra dấu hiệu vi phạm đã nghiêm túc, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm và chủ động sửa chữa, khắc phục hậu quả đã xảy ra. Vì vậy, đảng viên A thuộc trường hợp được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, giảm nhẹ hình thức xử lý kỷ luật.

3-Hỏi: Qua kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận đảng viên A có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật và đã nhiều lần mời đến làm việc nhưng đồng chí A không có mặt và không có lý do chính đáng. Trường hợp này, tổ chức đảng có thẩm quyền có xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên A hay không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 39, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng quy định:

"Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật".

Căn cứ quy định trên, đảng viên A đã được tổ chức đảng có thẩm quyền nhiều lần mời đến làm việc nhưng đồng chí A không có mặt mà không có lý do chính đáng, không báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền hoặc tổ chức đảng nơi sinh hoạt và quản lý đảng viên A, tức là thuộc trường hợp đảng viên có vi phạm từ chối kiểm điểm, báo cáo giải trình theo quy định. Do đó, tổ chức đảng có thẩm quyền vẫn tiến hành xem xét, thi hành kỷ luật đối với đảng viên A.

4-Hỏi: Đảng viên A bị ủy ban kiểm tra huyện ủy thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ. Hỏi tổ chức đảng có thẩm quyền nào là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với khiếu nại của đồng chí đó.

Trả lời:

- Điểm 7.2, Khoản 7, Điều 39, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

" Ban Bí thư là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khai trừ, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với các hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức do cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương trở xuống quyết định.

Đối với các hình thức kỷ luật do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương quyết định thì Ban Chấp hành Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng".

Căn cứ quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, Ban Bí thư là cấp khiếu nại cuối cùng đối với khiếu nại của đảng viên A.

5-Hỏi: Huyện B thuộc tỉnh A. Do huyện B mới được chia tách nên cấp ủy tỉnh A chỉ định cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, bí thư, phó bí thư huyện B. Hỏi cấp ủy tỉnh A có thể đồng thời chỉ định ủy ban kiểm tra huyện ủy huyện B được không?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 31, Điều lệ Đảng khóa XII quy định:

"Ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy".

Điểm 16.5, Khoản 5, Quy định số 29-QĐ/TW, ngày 25-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về chỉ định cấp uỷ ở những nơi thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập đảng bộ, chi bộ quy định:

 "Trong nhiệm kỳ của cấp uỷ, nếu có sự thay đổi về tổ chức như: thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định cấp uỷ chính thức, bí thư, phó bí thư, ban thường vụ theo Khoản 5, Điều 13 Điều lệ Đảng; cấp uỷ được chỉ định bầu uỷ ban kiểm tra, chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra theo Điều 31 Điều lệ Đảng và Quy chế bầu cử trong Đảng; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của cấp uỷ không nhất thiết là 5 năm. Cách tính nhiệm kỳ đại hội theo hướng dẫn của Ban Bí thư".

Theo các quy định trên, sau khi cấp ủy tỉnh A chỉ định cấp ủy huyện B thì cấp ủy huyện B phải tổ chức hội nghị để bầu ủy ban kiểm tra. Vì vậy, khi cấp ủy tỉnh A chỉ định cấp ủy huyện B thì không chỉ định ủy ban kiểm tra huyện ủy huyện B.

6-Hỏi: Trong quá trình thực hiện đề bù, giải phóng mặt bằng trên địa bàn, chi bộ A nhận thấy đảng viên B (là Phó Chủ tịch UBND xã) có dấu hiệu vi phạm nên đã họp, thống nhất và có văn bản báo cáo đảng ủy xã về những dấu hiệu vi phạm đó. Khi đảng ủy xã tiếp nhận văn bản trên thì có hai loại ý kiến:

1. Đề nghị Đảng ủy xã xem xét, giải quyết tố cáo theo thẩm quyền.

2. Đề nghị đảng ủy xã chuyển ủy ban kiểm tra đảng ủy xã xem xét, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với đảng viên B.

Trả lời:

- Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Trường hợp cơ quan, tổ chức cung cấp các thông tin, báo cáo cho tổ chức đảng, đảng viên có trách nhiệm về dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên thì không phải là tố cáo".

- Khoản 1, Điều 32, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ:

"Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên".

Căn cứ các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, chi bộ có văn bản báo cáo đối với đảng ủy xã về những dấu hiệu vi phạm của đồng chí B, phó chủ tịch UBND xã thì không phải là tố cáo nên không giải quyết theo quy trình giải quyết tố cáo.

Trường hợp này, căn cứ báo cáo của chi bộ và những chứng cứ thu thập được, đảng ủy xã có thể giao cho ủy ban kiểm tra đảng ủy xã nắm tình hình, nếu có cơ sở có thể kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với đảng viên A.

Vậy, ý kiến thứ hai đúng.

7-Hỏi: Đảng viên A là Bí thư chi bộ thuộc Đảng ủy xã B, vi phạm nghiêm trọng việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Nhận thức được vi phạm của mình, đảng viên A đã tự nguyện có đơn xin được thôi giữ chức Bí thư chi bộ và được Đảng ủy xã B xem xét, đồng ý. Có ý kiến cho rằng, Đảng ủy xã B phải xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên A theo quy định.

Vậy, ý kiến trên đúng hay sai?

Trả lời:

Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 35, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

 "Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xoá tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp uỷ viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không để thôi giữ chức".

Căn cứ quy định trên, việc Đảng ủy xã B xem xét, đồng ý cho đảng viên A đang có vi phạm nghiêm trọng trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên thôi giữ chức Bí thư chi bộ là không đúng quy định. Trường hợp này, đảng ủy xã B phải thực hiện việc xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên A theo quy định.

Vậy, ý kiến trên là đúng.

8-Hỏi: Đảng viên A là cấp ủy viên xã B vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Quá trình thực hiện quy trình kỷ luật, đảng viên A đã kiểm điểm tại chi bộ nhưng ủy ban kiểm tra huyện ủy vẫn yêu cầu kiểm điểm tại Ban Chấp hành Đảng bộ xã B.

Có ý kiến cho rằng, đảng viên A chỉ phải kiểm điểm tại chi bộ, không phải kiểm điểm tại Ban chấp hành Đảng bộ xã B.

Vậy, ý kiến trên đúng hay sai?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 39, Điều lệ Đảng khóa XII quy định:

"Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật…".

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 39, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Đảng viên vi phạm là cấp uỷ viên hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý cùng với việc kiểm điểm ở chi bộ còn phải kiểm điểm ở những tổ chức đảng nào nữa thì do cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định".

Căn cứ các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, đảng viên A là cấp ủy viên xã B, vi phạm đến mức phải kỷ luật đã kiểm điểm tại chi bộ nhưng vẫn phải kiểm điểm tại Ban Chấp hành Đảng bộ xã B, nơi đảng viên đó là thành viên theo yêu cầu của Ủy ban Kiểm tra huyện ủy.

Vậy, ý kiến trên không đúng.

9-Hỏi: Sau khi nhận được thông báo kết quả giải quyết tố cáo của tổ chức đảng có thẩm quyền đối với đảng viên, người tố cáo không đồng ý với kết luận một số nội dung tố cáo nên tiếp tục gửi đơn tố cáo.

Vậy, trường hợp trên phải giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Không giải quyết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ và đơn tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền (do Điều lệ Đảng và Luật Tố cáo quy định) xem xét, kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc; đơn tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; đơn tố cáo có tên, nhưng trong nội dung của đơn không chứa đựng, phản ánh nội dung tố cáo đối với đảng viên, tổ chức đảng; đơn tố cáo không phải bản do người tố cáo trực tiếp ký tên; đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên; đơn tố cáo của người không có năng lực hành vi dân sự".

Như vậy, trường hợp người tố cáo đã nhận được thông báo kết luận giải quyết tố cáo nhưng tiếp tục tố cáo và cung cấp được tài liệu, chứng cứ có thể thay đổi được bản chất vụ việc thì tổ chức đảng có thẩm quyền phải tiếp nhận, xử lý, giải quyết theo quy định.

Ngược lại, trường hợp người tố cáo đã nhận được thông báo kết luận giải quyết tố cáo nhưng không đồng ý với một số nội dung trong thông báo kết luận đó và tố cáo lại nhưng không có tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc thì tổ chức đảng có thẩm quyền không xem xét, giải quyết.

10-Hỏi: Đảng viên A đang đi học cao cấp lí luận chính trị nên chuyển sinh hoạt tạm thời đến chi bộ lớp thuộc Đảng ủy nhà trường. Trong quá trình học, đảng viên A vi phạm đến mức phải kỷ luật khai trừ.

Vậy, trong trường hợp này, thẩm quyền kỷ luật là của cơ quan nào?

Trả lời:

Điểm 6.8, Khoản 6, Điều 36, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"- Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời vi phạm kỷ luật ở nơi sinh hoạt tạm thời, thì cấp uỷ nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật tới mức cảnh cáo. Sau khi xử lý kỷ luật phải thông báo bằng văn bản cho cấp uỷ nơi đảng viên sinh hoạt chính thức biết.

Trường hợp phải xử lý kỷ luật ở mức cao hơn, cấp uỷ nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời phải thông báo bằng văn bản nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm để cấp uỷ nơi quản lý chính thức đảng viên đó xem xét, xử lý kỷ luật; đồng thời báo cáo với cấp uỷ cấp trên của tổ chức đảng nơi quản lý chính thức đảng viên đó biết và chỉ đạo việc xử lý".

Căn cứ quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, đảng viên vi phạm đến mức phải kỷ luật khai trừ ra khỏi đảng thì Đảng ủy nhà trường nơi đảng viên A đang sinh hoạt tạm thời không có thẩm quyền kỷ luật khai trừ đối với đảng viên A. Do vậy, đảng ủy nhà trường có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm của đảng viên A để cấp uỷ nơi quản lý chính thức đảng viên A xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định.

Tạp chí Kiểm tra