Trả lời bạn đọc tháng 11-2017

23/11/2017 | 22:58 PM

Xem với cỡ chữ

1- Hỏi: Có phải chỉ khi đảng viên bị truy tố, tạm giam mới thực hiện đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên đó?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 40, Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Việc đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng nhằm ngăn chặn hành vi gây trở ngại cho việc xem xét, kết luận của tổ chức đảng có thẩm quyền hoặc hành vi làm cho vi phạm trở nên nghiêm trọng hơn.

- Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên) có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam thì phải đình chỉ sinh hoạt đảng".

Theo các quy định trên thì đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng trong các trường hợp sau:

(1)-Có hành vi gây trở ngại cho việc xem xét, kết luận của các tổ chức đảng có thẩm quyền, hoặc có hành vi vi phạm làm cho sự việc trở nên nghiêm trọng hơn.

(2)-Có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng và có hành vi cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp ủy và công tác kiểm tra của Đảng.

(3)-Bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam.

Như vậy, đảng viên bị truy tố, tạm giam chỉ là một trong những trường hợp cụ thể để tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên.

2- Hỏi: Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ tiến hành công tác kiểm tra như thế nào?

Trả lời:

Mục a, Tiết 1.2.1, Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 30, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ tiến hành công tác kiểm tra như sau:

"Phối hợp với uỷ ban kiểm tra cùng cấp tham mưu, giúp cấp uỷ xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra hằng năm thuộc lĩnh vực phụ trách; tham gia các cuộc kiểm tra của cấp uỷ hoặc chủ trì kiểm tra khi được cấp uỷ giao.

 Xây dựng chương trình, kế hoạch và sử dụng bộ máy của cơ quan mình tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên hoặc phối hợp với uỷ ban kiểm tra và các cơ quan tham mưu, giúp việc khác của cấp uỷ để tiến hành công tác kiểm tra.

Giúp cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ theo dõi, đôn đốc tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra; tham gia ý kiến và giúp cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ kết luận các nội dung kiểm tra thuộc lĩnh vực được giao".

Khi tiến hành kiểm tra chuyên đề theo trách nhiệm, thẩm quyền, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy phải quyết định thành lập đoàn kiểm tra; xây dựng kế hoạch kiểm tra và lịch trình tiến hành kiểm tra; tiến hành kiểm tra theo đúng nguyên tắc, phương pháp, quy trình, thủ tục công tác kiểm tra của Đảng.

3- Hỏi: Hình thức kỷ luật đối với đảng viên chính thức và đảng viên dự bị có khác nhau không?

Trả lời:

Điều 35, Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định về hình thức kỷ luật đối với đảng viên  như sau:

"Đối với đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ."

"Đối với đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo".

Như vậy, đảng viên chính thức có 4 hình thức kỷ luật là: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ. Đảng viên dự bị có 2 hình thức kỷ luật là: Khiển trách, cảnh cáo. Tuy nhiên, đối với đảng viên dự bị nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì mặc dù không bị áp dụng hình thức kỷ luật khai trừ nhưng tổ chức đảng có thẩm quyền phải thực hiện việc xóa tên trong danh sách đảng viên.

4- Hỏi: Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ tiến hành công tác giám sát như thế nào?

Trả lời:

Mục b, Tiết 1.2.1, Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 30, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ khi tiến hành công tác giám sát như sau:

"- Thành viên các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và cán bộ, chuyên viên được phân công theo dõi lĩnh vực, địa bàn khi thực hiện giám sát được yêu cầu tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi phụ trách báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc giám sát và phải giữ bí mật nội dung thông tin, tài liệu đó.

- Qua giám sát, kịp thời nhắc nhở đối tượng được giám sát phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm; nếu phát hiện tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.

- Nếu phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc ban hành các văn bản sai trái thì báo cáo cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp xem xét, xử lý".

5- Hỏi: Về hình thức đơn tố cáo, có 2 loại ý kiến như sau:

Ý kiến 1: Đơn tố cáo là văn bản có tiêu đề là "Đơn tố cáo", còn đơn có tiêu đề "Đơn kiến nghị", "Đơn đề nghị", "Đơn phản ánh"... mặc dù trong đó có nội dung tố cáo nhưng không phải đơn tố cáo.

Ý kiến 2: Dù tiêu đề là "Đơn kiến nghị", "Đơn đề nghị", "Đơn thư phản ánh"... nhưng nếu trong đơn có nội dung tố cáo thì vẫn được coi là đơn tố cáo.

Trả lời:

Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32,Điều 30, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Tố cáo trong Đảng là việc công dân Việt Nam, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là có dấu hiệu vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng và chính sách,pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân".

Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32, Quy định trên cũng quy định:

"Người tố cáo phải trình bày trung thực sự việc, ghi rõ họ, tên, địa chỉ, ký tên chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo và bằng chứng của mình. Nếu phản ảnh trực tiếp thì phải được ghi lại thành văn bản, người tố cáo phải ký tên chịu trách nhiệm vào văn bản. Không được viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên hoặc ký tên từ hai người trở lên trong một đơn tố cáo,...

…- Không giải quyết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ và đơn tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền (do Điều lệ Đảng và Luật Tố cáo quy định) xem xét, kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc; đơn tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; đơn tố cáo có tên, nhưng trong nội dung của đơn không chứa đựng, phản ánh nội dung tố cáo đối với đảng viên, tổ chức đảng; đơn tố cáo không phải bản do người tố cáo trực tiếp ký tên; đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên; đơn tố cáo của người không có năng lực hành vi dân sự".

Như vậy, đơn có nội dung báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là có dấu hiệu vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân có nội dung tố cáo được coi là đơn tố cáo, không căn cứ vào tiêu đề của đơn.

Vậy, ý kiến thứ 2 đúng.

6- Hỏi: Đảng viên A có hành vi tổ chức đánh bạc, bị cơ quan chức năng khởi tố bị can, bắt tạm giam thì việc xem xét, kỷ luật và công bố quyết định kỷ luật Đảng được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 40, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý thì chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết chờ kết luận hoặc tuyên án của toà án…".

- Khoản 1, Điều 39, Quy định 30 nêu trên cũng quy định:

"Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật".

Căn cứ các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, đảng viên A hiện đang bị khởi tố và bắt tạm giam, không thực hiện được việc kiểm điểm tại chi bộ và dự công bố quyết định kỷ luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền vẫn chủ động xem xét, thi hành kỷ luật đối với đồng chí đó và công bố quyết định kỷ luật theo quy định.

7- Hỏi: Chi bộ họp biểu quyết kỷ luật đảng viên vi phạm. Trong chi bộ có một đảng viên đã chuyển sinh hoạt đảng tạm thời sang đảng bộ khác. Vậy, đảng viên đó có được biểu quyết không kỷ luật đảng viên vi phạm ở chi bộ sinh hoạt chính thức không?

Trả lời:

Tiết b và Tiết c, Điểm 6.3.2, Khoản 6.3, Điều 6, Quy định số 29-QĐ/TW, ngày 25-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương quy định thi hành Điều lệ Đảng quy định:

"b) Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời có nhiệm vụ và quyền hạn: Ở nơi sinh hoạt chính thức thì thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền theo quy định tại Điều 2 và Điều 3, Điều lệ Đảng; ở nơi sinh hoạt tạm thời thì trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử.

c) Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời không tính vào đảng số của đảng bộ nơi sinh hoạt tạm thời mà tính vào đảng số của đảng bộ nơi sinh hoạt chính thức; đóng đảng phí ở chi bộ nơi sinh hoạt đảng tạm thời".

Như vậy, theo quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, đảng viên đã chuyển sinh hoạt đảng tạm thời sang đảng bộ khác thì vẫn được tính vào đảng số của đảng bộ nơi sinh hoạt chính thức và vẫn có quyền biểu quyết kỷ luật đảng viên vi phạm ở chi bộ mà đảng viên đó sinh hoạt chính thức.

8- Hỏi: Ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm gồm những đối tượng nào?

Trả lời:

Điểm 1.5, Khoản 1, Điều 30, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định đối tượng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra các cấp gồm:

"Đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, trước hết là cấp uỷ viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý; khi cần thiết thì kiểm tra đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới quản lý".

Như vậy, đối tượng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra các cấp là đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, trước hết là cấp uỷ viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý và đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới quản lý (khi cần thiết).

9- Hỏi: Quá trình giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng thì ủy ban kiểm tra huyện ủy và tương đương có quyền thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật do tổ chức đảng cấp dưới có thẩm quyền quyết định đối với đảng viên không?

Trả lời:

Tiết 5.2.3, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32, Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên có thẩm quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật đối với đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới đã quyết định.

Trường hợp phải thay đổi bằng hình thức kỷ luật cao hơn, vượt quá thẩm quyền phải báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Như vậy, theo quy định trên, ủy ban kiểm tra huyện ủy có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật mà tổ chức đảng cấp dưới đã áp dụng đối với đảng viên vi phạm. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thay đổi hình thức kỷ luật cao hơn mà vượt quá thẩm quyền của ủy ban kiểm tra huyện ủy và tương đương thì ủy ban kiểm tra huyện ủy và tương đương phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền thi hành kỷ luật xem xét, quyết định./.

Tạp chí Kiểm tra