Trả lời bạn đọc tháng 10-2017

30/10/2017 | 21:04 PM

Xem với cỡ chữ

1. Hỏi: Tháng 11-2015, đảng viên A sinh hoạt tại Chi bộ C, trực thuộc Đảng ủy Viện khoa học X, thuộc Đảng bộ Trường đại học H (Đảng bộ thành phố P), vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và bị Đảng ủy Viện khoa học X đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên A từ ngày 14-11-2015. Đến ngày 14-4-2016, Tòa án Nhân dân quận B đã xử phạt đảng viên A 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Từ khi có bản án đến nay, đảng viên A chưa bị xử lý kỷ luật về Đảng.

Ngày 05-01-2017, Ban Thường vụ Thành ủy N có quyết định tiếp nhận Chi bộ C cùng 13 đảng viên về Đảng bộ Quận Y, Thành phố N. Ngày 09-01-2017,Quận ủy Y có quyết định chuyển giao tổ chức đảng nêu trên về trực thuộc Đảng bộ khối doanh nghiệp Quận Y.

Vậy, thẩm quyền, quy trình xem xét, thi hành kỷ luật đối với đảng viên A được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

1-Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 40, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Trường hợp bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của toà án để quyết định khai trừ hoặc xoá tên trong danh sách đảng viên (đối với đảng viên dự bị), không phải theo quy trình thi hành kỷ luật. Tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ đảng viên thông báo bằng văn bản cho chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt và các tổ chức đảng nơi đảng viên đó là thành viên".

2- Khoản 2, Điều 1, Hướng dẫn số 09-HD/UBKTTW, ngày 06-6-2013 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thực hiện một số điều của Quy định số  181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, hướng dẫn như sau:

 "Khi tổ chức đảng có thẩm quyền đang xem xét, xử lý đảng viên vi phạm mà tổ chức đảng nơi đảng viên vi phạm công tác, sinh hoạt bị giải thể hoặc sáp nhập, chia tách hoặc kết thúc hoạt động thì tổ chức đảng có thẩm quyền tiếp tục xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên của tổ chức đảng đó xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ".

Căn cứ các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, Chi bộ C đã chuyển giao vềĐảng bộ Quận Y thuộcĐảng bộ thành phố N nên Uỷ ban Kiểm tra Quận uỷ Y có thẩm quyền tiếp tục xem xét, xử lý kỷ luậtđối vớiđảng viên A theo thẩm quyền.

2. Hỏi: Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng như thế nào?

Trả lời:

Điểm1.3,Khoản 1, Điều 36, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy địnhtổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng như sau:

 "Chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, các quyết định, kết luận, yêu cầu của chủ thể kiểm tra, giám sát; báo cáo, giải trình đầy đủ, trung thực về các nội dung được yêu cầu; không để lộ bí mật nội dung kiểm tra, giám sát cho tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm biết.

- Được sử dụng bằng chứng về các nội dung kiểm tra, giám sát; được bảo lưu ý kiến và đề nghị với tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét lại nhận xét, đánh giá, kết luận, quyết định đối với mình hoặc xem xét lại việc thực hiện nguyên tắc, quy trình, thủ tục,nội dung, yêu cầu, trách nhiệm, thẩm quyền của cấp kiểm tra, giám sát".

3. Hỏi: Chi bộ có thẩm quyền gì trong việc thi hành kỷ luật đảng viên?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định như sau:

"Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao)…

Đối với cấp uỷ viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ từ cấp uỷ viên đảng uỷ cơ sở trở lên và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao phải áp dụng hình thức kỷ luật thì chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Khoản 1, Điều 39,Quy định 30-QĐ/TW quy định:

"Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật..."

Điểm 6.1, Khoản 6, Điều 39, Quy định 30-QĐ/TW quy định:

"...Trường hợp chi bộ chỉ có bí thư chi bộ, nếu bí thư bị xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ thì bí thư chi bộ báo cáo cấp uỷ cấp trên trực tiếp để cử đại diện chủ trì hội nghị xem xét, kỷ luật".

Theo các quy định trên, Chi bộ có thẩm quyềntrong việc thi hành kỷ luật đảng viên, đó là: Tổ chức tiến hành họp kiểm điểm đảng viên để nghe đảng viên trình bày nội dung kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật trước chi bộ; trường hợp chi bộ chỉ có bí thư chi bộ nếu bí thư chi bộ bị xử lý kỷ luật (hình thức kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ) thì bí thư chi bộ báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp để cử đại diện chủ trì hội nghị xem xét, kỷ luật; chi bộ có thẩm quyền ra quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).Đồng thời, chi bộ có quyền đề nghị cấp trên có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm trong trường hợp không thuộc thẩm quyền của chi bộ.

4. Hỏi: Đảng ủy bộ phận có thẩm quyền gì trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm?

Trả lời:

Khoản 1,Điều 36, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Đảng uỷ bộ phận và ban thường vụ đảng uỷ cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên, nhưng có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ".

Căn cứ quy định trên, đảng ủy bộ phận không có quyền thi hành kỷ luật đảng viên mà chỉ có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật đảng viên để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định của Đảng.

5. Hỏi:  Sau khi giải quyết khiếu nại, ủy ban kiểm tra từ cấp quận, huyện và tương đương trở lên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật đảng viên như thế nào?

Trả lời:

Tiết 5.2.3, Điểm 5.2,Khoản 5, Điều 32, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"- Uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên có thẩm quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật đối với đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới đã quyết định.

Trường hợp phải thay đổi bằng hình thức kỷ luật cao hơn, vượt quá thẩm quyền phải báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Điểm 4.2, Khoản 4, Điều 36, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:

"Uỷ ban kiểm tra cấp uỷ huyện, quận và tương đương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cơ sở và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp; quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ, đảng uỷ bộ phận trực thuộc đảng bộ cơ sở hoặc cán bộ thuộc diện đảng uỷ cơ sở quản lý nhưng không phải là đảng uỷ viên đảng uỷ cơ sở hay cán bộ do cấp uỷ huyện, quận và cấp tương đương quản lý".

Như vậy, sau khi giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng đối với đảng viên thì Ủy ban kiểm tra từ cấp quận, huyện và tương đương trở lêncó quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật mà tổ chức đảng cấp dưới đã quyết định đối với đảng viên bằng các hình thức kỷ luật cụ thể đối với đảng viên kể cả cấp ủy viên cấp dưới, cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp như đã nêu trên. Trường hợp phải thay đổi quyết định kỷ luật đối với đảng viên bằng hình thức kỷ luật cao hơn, vượt quá thẩm quyền nêu trên của ủy ban kiểm tra cấp huyện, quận và tương đương trở lên thì phải báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên xem xét, quyết định.

6. Hỏi: Giám sát theo chương trình, kế hoạch là giám sát thường xuyên hay chuyên đề?

Trả lời:

Điểm a, Khoản 2, Điều 11, Quy định 86 QĐ/TW, ngày 01-6-2017 của Bộ Chính trị về giám sát trong Đảng quy định hình thức giám sát theo chuyên đề như sau:

"Xây dựng chương trình, kế hoạch hằng năm và thông báo cho đối tượng giám sát".

Hướng dẫn 02-HD/UBKTTW, ngày 12-9-2017 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện Khoản 2, Điều 4, Quy định 86 QĐ/TW, ngày 01-6-2017 của Bộ Chính trịvề giám sát trong Đảng như sau:

"…Giám sát theo chương trình, kế hoạch là giám sát chuyên đề".

Căn cứ quy định và hướng dẫn trên, trường hợp câu hỏi nêu, việc giám sát theo chương trình, kế hoạch là giám sát theo chuyên đề.

7. Hỏi: Trong thời gian giám sát tổ chức đảng hoặc đảng viên, đoàn giám sát được thẩm tra, xác minh khi nào?

Trả lời:

Điểm d, Khoản 2, Điều 11, Quy định số 86-QĐ/TW ngày 01-6-2017 của Bộ Chính trị về quy định giám sát trong Đảng nêu: Trong quá trình thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát theo chuyên đề "Khi cần thiết thì được thẩm tra, xác minh".

Điểm 2.3, Khoản 2, Điều 11,Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, ngày 12-9-2017 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện một số Điều trong Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 01-6-2017 của Bộ Chính trị về giám sát trong Đảng hướng dẫn như sau:

"Khi đoàn giám sát nhận thấy còn có nội dung giám sát chưa rõ, chưa đủ cơ sở để xem xét, đánh giá thì trưởng đoàn giám sát quyết định việc thẩm tra, xác minh".

Như vậy, với những nội dung giám sátmà đoàn giám sát thấy chưa rõ, chưa đủ cơ sở để xem xét, đánh giá thì trưởng đoàn sẽ quyết định việc thẩm tra, xác minh.

8. Hỏi: Thời gian thực hiện kế hoạch giám sát theo chuyên đề đối với các cấp như thế nào?

Trả lời:

Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 11, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, ngày 12-9-2017 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện một số Điều trong Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 01-6-2017 của Bộ Chính trị về giám sát trong Đảng hướng dẫn như sau:

"…Thời gian giám sát được tính từ ngày chủ thể giám sát nhận được báo cáo theo gợi ý giám sát của đối tượng giám sát. Thời gian giám sát đối với cấp Trung ương không quá 45 ngày làm việc; cấp tỉnh, thành và tương đương không quá 30 ngày làm việc; cấp huyện, quận và tương đương không quá 25 ngày làm việc; cấp cơ sở không quá 20 ngày làm việc. Trường hợp đặc biệt, chủ thể giám sát có thể quyết định gia hạn thời gian giám sát nhưng không quá 1/3 thời gian giám sát đối với từng cấp theo quy định."

Như vậy, theo hướng dẫn trên thì thời gian giám sát theo chuyên đề ở mỗi cấp được quy định cụ thể như sau:

- Cấp Trung ương không quá 45 ngày làm việc;

- Cấp tỉnh, thành và tương đương không quá 30 ngày làm việc;

- Cấp huyện, quận và tương đương không quá 25 ngày làm việc;

- Cấp cơ sở không quá 20 ngày làm việc.

Trong trường hợp đặc biệt, có thể quyết định gia hạn thời gian giám sát nhưng không quá 1/3 thời gian giám sát theo quy định đối với từng cấp.

9. Hỏi: Các ban cán sự đảng, đảng đoàn thực hiện lãnh đạo công tác kiểm tra Đảng gồm những nội dung gì?

Trả lời:

Tiết 1.2.2, Điểm 1.2, Khoản 1, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định nội dung lãnh đạo công tác kiểm tra của các ban cán sự đảng, đảng đoàn, gồm:

 "+ Triển khai quán triệt vàchấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, hướng dẫn của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

+ Lãnh đạo các thành viên của ban cán sự đảng, đảng đoàn gương mẫu thực hiện công tác kiểm tra và chấp hành nghiêm chỉnh khi được kiểm tra, giám sát.

+ Lãnh đạo việc giải quyết các đề xuất, kiến nghị về công tác kiểm tra có liên quan đến trách nhiệm, thẩm quyền của ban cán sự đảng, đảng đoàn; lãnh đạo khắc phục hậu quả, sửa chữa khuyết điểm sau kiểm tra, giám sát.

+ Kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng".

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng ban cán sự, đảng đoàn ở từng cấp và tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị công tác xây dựng Đảng trong từng thời gian để ban cán sự đảng, đảng đoàn thực hiện việc lãnh đạo công tác kiểm tra cho phù hợp./.

Tạp chí Kiểm tra