Vua Gia Long cải cách hủ tục năm Giáp Tý – 1804

18/02/2020 | 08:43 AM

View with font size

Tháng Tám năm Quý Hợi (tháng 9 - 1803), Vua Gia Long thực hiện chuyến công cán ra Thăng Long để nhận sách phong của nhà Thanh do các sứ thần trao. Trước khi vào Thăng Long, Vua dừng chân và thăm thú nhiều nơi. Đến đâu, Vua cũng lưu tâm đến đời sống các mặt của dân, nhất là các phong tục tập quán ở các làng, ghi nhận những điều được và chưa được, thấy rõ những mặt trái của các tục này. Đây là cơ sở để vào tháng Giêng năm Giáp Tý (tháng 2 - 1804), sau khi nhận sách phong từ sứ nhà Thanh, Vua xuống Chiếu “Định điều lệ hương đảng cho các xã dân ở Bắc Hà”. Tờ Chiếu thể hiện tư tưởng cải cách toàn diện cá phong tục làng xã của ông.

Mở đầu tờ Chiếu, nhà vua khẳng định, “Gần đây, giáo dục trễ nải, chính trị suy đồi, làng không tục hay, noi theo đã lâu, đắm chìm quá đỗi. Phàm tiết ăn uống, lễ cưới xin, việc tang ma và thờ thần, thờ Phật, nhiều việc quá trớn lấn lễ; bọn hào mục nhân cớ đó mà đục khoét, người cùng dân đến nỗi dạt xiêu, thực là bởi cớ ấy”. Những biểu hiện cụ thể của các phong tục đã bị “biến dạng” đã được nhà vua chỉ ra là:

- Trong cưới xin: Lệ thách cưới và ăn uống linh đình, các nghi lễ phiền phức và tốn kém.

- Trong tang ma: Khoán lệ của làng về tang ma quá nặng nề, dẫn đến “nhà người có tang ăn uống kể đến mấy lần, cỗ bàn phải có nhiều món, danh là báo hiếu, thực là nợ miệng, noi nhau thành thói, người giàu thì lấn lề vượt phận để phô mẽ với người ta, người nghèo thì vay nợ đợ mình đến nỗi thất sở”. Cùng với đó là tình trạng mê tín mời thầy địa lý chọn đất chôn cất để “tính việc kết phát, sáng chôn chiều bới, di cải không thường, tấm lòng thương xót không còn gì nữa, chẳng nghĩ tới đạo làm người duy trung với hiếu….”.

- Trong khao vọng: Lệ làng đối với người thành đạt cũng rất nặng: “Khi có người trúng khoa trưởng, hay được ban sắc mệnh, người làng vin vào tục lệ, đòi thết đãi, cỗ bàn ăn uống mấy phen, sau trước theo nhau, gọi là nợ miệng. Đền xong khoán lệ của làng thì mất hết gia tài, lụn bại”.

- Trong thờ thần, các hủ tục là “khi vào đám hát xướng, hoặc xuân tế, thu tế, nhiều thì vài mươi ngày, ít đám chín ngày đêm, thưởng lèo vô số, tuồng chèo hát hổng, ăn uống xa hoa, tiêu không tiếc của. Ngoài ra lại đua thuyền, múa rối, đủ mọi thứ trò... Rồi lại bắt đóng góp, hao của tốn tiền”. Cùng với đó là tình trạng xây hoặc tu sửa miếu vũ “cửa ngăn nóc chồng, chạm xà vẽ cột, tế khí nghi trượng thì trang sức vàng bạc, màn tán cờ quạt thì thêu thùa văn vẻ”. Trong thờ Phật, tình trạng “xây dựng chùa chiền quá cao, lầu gác rất tráng lệ, đúc chuông, tô tượng rất đỗi đàng hoàng, cùng là làm chay, chạy đàn, mở hội, phí tổn cúng Phật nuôi sư không thể chép hết, để cầu phúc báo viển vông, đến nỗi tiêu hao màu mỡ”. Đi liền với đó là tệ mê tín dị đoan (bói toán đồng cốt): “Động đến là xin phù chú, kêu đồng bóng, lập đàn tràng, khua chuông trống, như chiều gió lướt, tập tục theo nhau, làm cho mê hoặc. Kẻ có tà thuật đều giả thác ảo huyền, làm rối tai mắt. Thổi bùa vẽ khoán, tạ pháp ân để sinh nhai; chuộc mệnh gọi hồn, xem nhà bệnh là hàng quý. Thậm chí phu đồng thiếp tính, bịa đặt lời thần, cấm thuốc nhịn ăn, làm cho người bệnh không thể chữa được nữa. Lại còn ngựa rơm, ngựa giấy, đạp cửa đốt nhà, cùng với mọi thứ bùa thuốc mê hoặc, khiến cho vợ cả ghét chồng, chồng say vợ lẽ, đã dùng thuật để nhiều người, lại gõ cửa đến xin chùa, lừa dối trăm chiều, thực làm hại lớn cho dân chúng”.

Trước thực trạng trên, Gia Long nung nấu ý đồ cải cách lại tập tục cùng bộ máy quản lý làng xã: “Nay tham chước thêm bớt, xén chỗ quá đáng, để chỗ vừa phải, lập định lệ cho hương đảng là muốn sửa đổi nguồn tệ và đường chính vậy”. Dưới đây là những ý kiến cải cách của ông về các khía cạnh của phong tục:

- Về cheo cưới: Dẫn ý của các nhà hiền triết Trung Quốc: “Hôn lễ là mối đầu của đạo người” và “Giá thú mà bàn của cải là thói của mọi rợ”, Gia Long cho rằng: “Đại phàm lấy vợ lấy chồng, chẳng qua cốt được cập đôi, còn lễ cưới thì nên châm chước trong sáu lễ, lượng tùy nhà có hay không, không được viết khế cầm cố ruộng. Hương trưởng thu tiền cheo trong lễ cưới thì tùy nhà giàu, nhà nghèo.

- Về tang ma, Gia Long khuyên dân các làng giúp nhau tổ chức tiết kiệm, theo tinh thần “một nhà có việc trăm nhà bận”; kẻ giàu thì giúp của, kẻ túng thì giúp sức, kẻ biết lễ thì trông giữ việc tang. Tế táng điếu phúng, hết thảy theo như Gia Lễ, khiến kẻ giàu biết có phận hạn, không quá xa hoa, kẻ nghèo tùy lực, không gắng theo tục; còn cỗ bàn ăn uống nhiều ít thì tùy ở nhà có tang, không được vin lệ đòi hỏi; đừng bắt một người chết mà muôn người say”. Đặc biệt, ông khuyên dân bỏ việc qua coi trọng chọn đất đặt mồ mả, cải táng, tìm long mạch để mong được kết phát mà sinh ra phiền phức, chỉ nên làm bền quan quách, chọn nơi khô ráo, tránh những nơi đầu non, đuôi nước, chùa miếu, binh lửa, thị thành, để người chết được yên tĩnh, con cháu được yên lòng”; bởi “sự giàu có hay nghèo hèn không phải do các thầy địa lý định đoạt, bởi những ông thầy nổi tiếng ở Trung Quốc cũng không thoát khỏi đời sống thiếu thốn, bị chết yểu, thậm chí có người bị “hình thương” vì xem bói… Từ đó, Vua cho rằng, người nào chỉ chăm chăm đặt mộ để mưu cầu sự giàu sang là những kẻ “lấy lòng bất hiếu mà mưu cầu cái phúc không đâu”, thì “trong hạn ba năm, phúc còn chưa đến, nghĩ ác một chút, vạ đã theo liền”, nên “thói tệ ấy cần phải răn đổi.”

- Về khao vọng,: Gia Long định lệ: “Từ nay về sau, các lễ vui mừng, việc lớn cho dùng xôi lợn, không có thì nộp thay 3 quan tiền, việc nhỏ thì dùng xôi gà, không có thì nộp thay 1 quan 6 tiền.”

- Về thờ thần, Phật, Gia Long khuyên các làng xã không xây mới, tu bổ đình miếu xa hoa lộng lẫy: “Miếu vũ nếu có trùng tu và làm mới chỉ làm một gian nội tự và ba gian trung đường, hai cột nghi môn không được chạm khắc sơn vẽ. Đồ tế khí nghi trượng không được sơn son thếp vàng; màn tán cờ quạt chỉ dùng vải lụa nhuộm mùi, không được thêu văn vẻ. Chùa quán có đổ nát mới được tu bổ, còn làm chùa mới và tô tượng đúc chuông, đàn chay hội chùa, hết thảy đều cấm. Sư sãi có kẻ chân tu thì xã trưởng sở tại phải khai rõ tính danh quán chỉ, đem nộp quan trấn để biết rõ số”. Đặc biệt, Vua chủ trương hạn chế mở hội hè, tế lễ kéo dài và tốn kém; hàng năm tế tự, vào đám hát xướng, chỉ cho một ngày một đêm, thưởng lèo không được quá phí; nếu tế bằng trâu bò thì phải làm đơn xin quan phủ huyện, xét đáng mới cho”.

Với những hiện tượng mê tín trong chữa bệnh, vua khuyên và ra lệnh: “Từ nay dân gian có đau ốm, chỉ nên cầu thuốc để trị, nhất thiết chớ nên nghe bọn yêu tà mà cầu cúng xằng xiên. Những bọn thầy pháp, cô đồng cũng không được sùng phụng hương lửa để nhương tai trừ họa. Nếu quen giữ thói cũ, ắt bị nghiêm trị”. Vua cũng ra lệnh trị tội nặng những kẻ truyền đọc sách sấm và soạn bậy những câu hò vè để mê hoặc.

Những chủ trương, biện pháp trên đây của vua Gia Long thực chất là nhằm can thiệp vào phong tục tập quán làng xã - yếu tố văn hóa có sức bền rất sâu sắc, có thể trở thành nguồn lực tinh thần lớn lao, khi chúng là những thuần phong mỹ tục; song có thể là lực cản cho sự phát triển khi chúng bị lợi dụng để trục lợi, biến thành hủ tục. Thái độ đó của Vua nhìn chung mang tính tích cực, vì trên thực tế, nhiều tập tục của làng xã được biểu hiện cụ thể bằng lệ làng khi đó đã trở thành gánh nặng, thậm chí là tai họa thực sự đối với người nông dân.

Dù những ý tưởng cũng như chủ trương, biện pháp cải tổ bộ máy quản lý và phong tục tập quán làng xã của Vua Gia Long được thực thi có hiệu quả như thế nào thì điều đó vẫn thể hiện ông là bậc vua rất quan tâm và hiểu biết sâu sát những vấn đề cốt yếu của đời sống làng xã, nhận thức được một cách sâu sắc vai trò quan trọng của việc định hướng phong tục tập quán và của việc quản lý làng xã trong quản lý đất nước.

Hơn 200 năm đã trôi qua, những ý tưỏng của Vua Gia Long về chấn chỉnh phong tục tập quán làng xã theo hướng giản tiện, tiết kiệm, nhằm tạo ra sự ổn định cho làng, cũng là sự ổn định của đất nước vẫn mang tính thời sự sâu sắc đối với việc xây dựng nông thôn mới, nhất là “Xây dựng đời sống văn hóa trong cộng đồng dân cư”, “Xây dựng nông thôn mới” hôm nay./.

Thạch Thiết Hà