Ngẫm về lời dặn của Vua Lý Nhân Tông trước lúc mất

25/12/2019 | 12:20 PM

View with font size

Lý Nhân Tông (1066 - 1128) là vị vua thứ tư của nhà Lý, lên ngôi năm Quý Sửu (năm 1073). Sử cũ ca ngợi ông là “Bậc vua sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân” (Đại Việt sử ký toàn thư), hay “ Vua sáng suốt, khôn ngoan, nhân hiền, hiếu nghĩa, nghe lời can ngăn, cầu kẻ hiền tài, tạp dịch ít, thuế khóa nhẹ, nhân chính rõ rệt trông thấy, thực là ông vua giỏi đời Lý” (Lịch triều hiến chương loại chí). Trong 56 năm trị vì ngôi báu của ông (1072 - 1128), nước Đại Việt bước tiếp một thời kỳ thịnh trị “nước lớn thì sợ, nước nhỏ thì mến, thần giúp đỡ, người ứng theo, thông âm luật, chế khúc hát, nhân dân giàu đông, mình nên thái bình” (Đại Việt sử ký toàn thư). Triều đình của ông đã làm được nhiều việc, in dấu ấn đậm nét trong lịch sử nước nhà, tiêu biểu là mở khoa thi Hội đầu tiên, lấy người đỗ tiến sĩ, chọn nhân tài cho đất nước (năm Ất Mão, 1075), đập tan cuộc xâm lược của nhà Tống (năm 1076 - 1077), buộc nhà Tống phải trả lại cho nước ta 6 huyện và 6 động mà họ đã chiếm. Nhiều chính sách tốt được ban bố, như cầu người hiền tài, cho phép thần dân được nói thẳng, cấm giết trâu… Sự anh minh của vua được Nhà sử học Phan Huy Chú ghi rõ “Khi về già, học thức cao minh, hiểu sâu đạo lý. Lúc sắp mất, vua giối giăng gửi con nhỏ, lời chiếu rõ ràng, đáng đọc”. Điều đó được sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ như sau:

“Tháng 12 năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ (khoảng tháng 01 - 1128, vua không khỏe, gọi Thái úy (1) Lưu Khánh Đàm vào nhận chiếu rằng:”. Trẫm nghe, phàm giống sinh vật không giống nào là không chết. Chết là số lớn của trời đất, lẽ của vật đều thế. Thế mà người đời không ai không thích sống mà ghét chết. Chôn cất cho hậu để mất sinh nghiệp, trọng để tang để tổn hại tính mệnh, trẫm không cho là phải. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên; đến khi chết đi, lại để cho nhân dân mình mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, tuyệt cúng tế, làm cho lỗi ta nặng thêm. Trẫm xót phận tuổi còn nhỏ đã nối ngôi báu(2), ở trên các vương hầu, lúc nào cũng nghiêm kính, sợ hãi, đến nay đã 56 năm rồi. Nhờ anh linh của tổ tông, được hoàng thiên tin giúp, bốn biển yên lành, biên thùy ít biến, đến chết được dự đứng sau các tiên quân là may lắm rồi, sao còn nên thương khóc? Trẫm từ khi đi xem gặt lúa đến giờ (3), bỗng nhiên bị ốm, bệnh đã kéo dài, sợ không kịp nói đến việc nối ngôi, mà thái tử Dương Hoán(4) nay đã đủ 12 tuổi, có nhiều đại độ, thông minh thành thực, trung nghiêm kính cẩn, có thể theo điển cũ mà lên ngôi hoàng đế, để cho kẻ thơ ấu chịu mệnh trời mà nối mình truyền nghiệp của ta. Việc tang thì sau ba ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc, việc chôn thì nên theo Hán Văn đế (5), cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên chôn ngay bên cạnh tiên đế. Than ôi, mặt trời đã xế, tấc bóng khó dừng, một đời từ giã, vĩnh quyết nghìn năm. Các ngươi nên thực lòng kính nghe lời trẫm, bảo rõ cho các vương công, tuyên bố ra ngoài”. Ngày hôm sau, vua băng ở điện Vĩnh Quang.

Lời  bàn

Lý Nhân Tông khi giữ ngôi báu thì hết lòng cùng quần thần đề ra các chính sách, giải pháp để đưa nước Đại Việt ổn định và phát triển, làm cho “thế nước thì không đời nào bằng đời Lý” như các cuốn sử cũ đã ghi nhận. Đến khi số mệnh đã gần hết thì bình tĩnh đón nhận và minh mẫn di chiếu cho các quan cận thần thực hiện hai việc lớn:

Việc thứ nhất, lập thái tử kết ngôi - một việc mà bất kỳ vị vua nào cũng phải lo tính đến không chỉ lúc đã về già mà cả khi còn trẻ, để ổn định cung đình, tránh tranh giành lẫn nhau giữa các hoàng tử, có thể dẫn đến bạo loạn, ảnh hưởng đến triều đình, đất nước. Nhân Tông đã chọn Dương Hoán, là cháu gọi bằng bác, song được vua nuôi từ nhỏ trong cung, nên ông hiểu rõ “có nhiều đại độ, thông minh thành thực, trung nghiêm kính cẩn” để nối ngôi. Sự lựa chọn của vua là chuẩn xác, khi về sau, Dương Hoán (tức vua Lý Thần Tông) tỏ rõ là bậc vua “tư chất thông tuệ, độ lượng rộng rãi, sửa sang chính sự dùng người hiền tài, thủy chung đều chính, nhiệm nhặt khúc nôi, không gì sai lệch” - như ghi nhận của sách Đại Việt sử ký toàn thư.

Việc thứ hai, dặn dò về việc triều đình lo tang cho mình. Thông thường, những người có quyền lực luôn muốn thể hiện quyền uy của mình. Khi còn sống thì thể hiện quyền uy đó bằng hưởng thụ các tiêu chuẩn về vật chất, tinh thần theo quy định, có khi lại tự bày đặt thêm, bằng các mệnh lệnh, ban ra… Lúc gần chết thì dặn dò người thân, người lệ thuộc mình phải tổ chức tang lễ đình đám. Việc thể hiện quyền uy của các bậc vua chúa càng mạnh mẽ, vì vua là “thiên tử”, thay trời trị dân.

Nhưng vua Lý Nhân Tông không phải là người thích và muốn thể hiện quyền uy theo nghĩa thái quá như trên. Ông quan niệm, chết là số mệnh của trời đất, có bày đặt tang lễ linh đình cũng không làm cho mình được vinh, uy hơn, thậm chí còn làm tổn đến cơ nghiệp, để tang quá trọng sẽ làm tổn hại đến tinh thần. Ông trăn trở một nỗi niềm là “ít đức, không để lại gì lớn lao cho dân nước”, mà khi chết lại bắt dân cả nước mặc áo xô gai, sớm chiều thương khóc, giảm bớt ăn uống thì là một lỗi lầm của người làm vua. Đó không phải là ý của ông. Ông tâm niệm, lúc sống đã đứng đầu các vương hầu, khi chết được theo sau tổ tiên là điều may rồi. Bởi vậy, ông đã dặn đại thần cố mệnh là Thái úy Lưu Khánh Đàm về việc tổ chức tang lễ của ông là chỉ để tang 3 ngày rồi bỏ áo tang, thôi thương khóc; chôn cất thì theo Hán Văn đế, chôn cạnh các tiên đế, không xây lăng riêng và dặn kỹ Lưu Khánh Đàm cần phải nói rõ cho các vương công và bày tỏ cho nhân dân cả nước đều biết.

Việc Lý Nhân Tông chủ trương tổ chức tang lễ cho mình giản tiện và dặn quần thần thực hiện đã gây ra những cuộc tranh cãi về sau, nhất là trong giới sử học, những bậc túc Nho. Tranh luận gay gắt nhất là việc Lý Nhân Tông chủ trương bỏ áo tang sau khi để tang được ba ngày, vì theo quan niệm của người đời xưa, con người sinh ra được cha mẹ nuôi, được ba tuổi mới “ra khỏi lòng cha mẹ”, nên khi cha mẹ chết phải để tang ba năm với đủ thứ cấm kỵ và kiêng cữ, trong đó phải mặc áo xô gai trong suốt thời gian chịu tang. Vậy mà, Lý Nhân Tông không theo lệ tục từ bao đời đó. Nhiều nhà sử học lớn của nước ta thời phong kiến còn phê phán gay gắt Lý Nhân Tông “phá lễ giáo”. Tuy nhiên, cũng có nhiều người bênh vực chủ trương của Lý Nhân Tông, không chỉ vì ông đã theo Hán Văn đế - vị vua nổi tiếng về cần kiệm - một giải pháp quan trọng góp phần đưa nhà Tây Hán trở nên hùng cường, mà còn thấy Lý Nhân Tông “theo lẽ thuận mà làm” và “Nếu yên lòng thì cứ làm” - như lời của Khổng Tử (6). “Lẽ thuận” và “sự yên lòng” của Lý Nhân Tông ở đây chính là ông thấy được sự phiền phức và tốn kém, lãng phí cho dân, cho nước khi tổ chức tang lễ theo lệ tục từ xưa, cần có những thay đổi. Trong điều kiện người xưa luôn giữ các lệ tục đó bằng mọi giá thì sự thay đổi trên của Lý Nhân Tông thật sự là một sự đột phá và một cuộc “cải cách”.

Những tâm niệm của vua Lý Nhân Tông về cuộc đời, nhất là “đời làm vua”, về sự sống và cái chết, những đột phá của ông trong thay đổi tổ chức tang ma, trước hết là lễ tang của chính mình toát lên một bài học đầy ý nghĩa: Ở đời, sự danh giá của mỗi người không phải ở quyền uy, các tiêu chuẩn được hưởng lúc còn sống và tổ chức tang lễ linh đình, xây mồ to mả đẹp khi chết, mà ở chỗ làm được những việc gì có lợi cho dân, cho nước.

 (1) Thái úy: võ quan, trật Chánh nhất phẩm, đứng đầu ngạch quan võ triều Lý, nhiều khi giữ chức tể tướng.

(2) Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 7 tuổi.

(3) Chỉ sự kiện tháng Mười năm Quý Mão (tháng 11 - 1123), vua Lý Nhân Tông đến hành cung Ứng Phong xem gặt.

(4) Thái tử Dương Hoán tức vua Lý Thần Tông (1116 - 1138) sau này.

(5) Hán Văn đế (202 - 157 trước Công nguyên), trị vì nhà Tây Hán ở Trung Quốc từ năm 180 đến năm 157 trước Công nguyên. Ông thực thi nhiều chính sách có lợi cho dân, là vị vua nổi tiếng về tính tiết kiệm trong lịch sử Trung Quốc. Về tang lễ, ông chủ trương vật tùy táng chỉ có đồ gốm, trong mộ không trang trí hào hoa, trên lăng không đắp nấm đất cao để tiết kiệm, bớt sức dân. Khi lâm chung, ông còn nhắc lại trong di chiếu ý định chôn cất đơn giản, giảm bớt việc táng tế.

(6) Khổng Tử hỏi người học trò là Tể Dư rằng:”Có tang cha mẹ mà mặc đẹp, ăn ngon có yên lòng không?”. Tể Dư đáp “Yên lòng”. Khổng Tử nói :”Nếu yên lòng thì cứ làm” (theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú)./.

     Thạch Thiết Hà