Bạc Liêu nỗ lực đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

15/01/2019 | 08:56 AM

Xem với cỡ chữ

Tỉnh Bạc Liêu thuộc Duyên hải vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Tổ quốc với diện tích 2.571 km2, dân số hơn 894 ngàn người; bờ biển dài 56 km thuận lợi cho khai thác, nuôi trồng thủy sản, du lịch và năng lượng sạch.

Khó khăn lớn nhất của Bạc Liêu là tỉnh thuần nông, thuộc diện nghèo với xuất phát điểm thấp, quy mô và tích lũy đầu tư từ nội bộ nền kinh tế nhỏ, khả năng tích lũy và huy động vốn đầu tư xã hội trên địa bàn hạn chế, thu ngân sách chưa đủ chi, thu nhập của dân cư còn thấp. Các doanh nghiệp trong tỉnh hầu hết thuộc diện vừa và nhỏ; chưa thu hút được nhiều dự án lớn, đầu tư nước ngoài; một số dự án lớn đầu tư vào tỉnh còn trong giai đoạn thực hiện thủ tục, chưa đủ điều kiện thi công và khai thác… do đó chưa có sự đóng góp nhiều cho tăng trưởng GRDP và thu ngân sách của địa phương.

Trước những khó khăn trên, nhiệm kỳ 2010-2015, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã nỗ lực tập trung phát triển kinh tế, vì vậy, kinh tế của địa phương đã tăng trưởng bình quân 12,1%/năm, cao hơn bình quân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. GRDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt hơn 2.030 USD, gần bằng mức bình quân cả nước và tăng hơn 2 lần so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, theo hướng công nghiệp hóa. Giá trị xuất khẩu hàng hoá năm 2015 ước đạt 447,5 triệu USD, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội và tăng hơn 2 lần so với năm 2010. Sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp (tăng trưởng 8,53%/năm) xây dựng được một số mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao như lúa - tôm kết hợp, lúa chất lượng cao, sản xuất, cung cấp hơn 22% nguồn tôm giống đạt chất lượng cho cả nước, nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính…; từng bước ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất có nhiều tiến bộ; sản xuất nguyên liệu gắn với chế biến, xuất khẩu, tạo ra giá trị gia tăng cao. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được triển khai thực hiện tích cực, nhất là các dự án động lực quy mô lớn như: Dự án điện gió - đã bổ sung một nguồn điện khá lớn, giai đoạn I đã hòa vào lưới điện quốc gia với công suất 48 MW; du lịch đạt kết quả khá ấn tượng, doanh thu tăng bình quân hằng năm 19,2%. Công nghiệp - xây dựng tăng trưởng cao, đạt 14,73%/năm. Các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cho gia đình có công với cách mạng được quan tâm tốt hơn, nhiều chương trình giảm nghèo đạt kết quả khá, bình quân hàng năm giảm nghèo đạt 3,15%.

Tuy nhiên còn một số chỉ tiêu thực hiện chưa đạt theo Nghị quyết Đại hội đề ra, như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng vốn đầu tư toàn xã hội, vấn đề thu ngân sách, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ số giường bệnh. Kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; năng suất, chất lượng, hiệu quả chưa cao, chưa thật bền vững. Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm hàng hoá còn thấp. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy có bước phát triển nhưng vẫn còn yếu kém, chưa đồng bộ, nhất là các địa bàn ven biển…

Nhà máy Điện gió Bạc Liêu tạo nguồn năng lượng sạch, thúc đẩy phát triển kinh tế -  xã hội của địa phương.

Đánh giá đúng thực trạng của địa phương, nhiệm kỳ 2015-2020 Đảng bộ tỉnh xác định 5 trụ cột cần tập trung chỉ đạo phát triển, góp phần hoàn thành các  chỉ tiêu của Nghị quyết, gồm: Nông nghiệp, trọng tâm là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất tôm, lúa gạo; Năng lượng tái tạo gồm điện gió, điện mặt trời và điện khí; Phát triển du lịch; Phát triển thương mại dịch vụ, giáo dục, y tế chất lượng cao; Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh.

Qua hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2015-2020), kinh tế - xã hội của tỉnh Bạc Liêu tiếp tục phát triển khá toàn diện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, bình quân giai đoạn 2016-2018 là 6,5% năm, năm 2018 tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá 2010 ước đạt hơn 26 ngàn tỷ đồng; tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người ước đạt hơn 42 triệu đồng/người/năm; thu ngân sách năm 2018 ước đạt 2.948 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 15,42%, tăng 1,64% (chỉ tiêu Nghị quyết đến năm 2020 là 16,3%); tỷ trọng khu vực dịch vụ 42,02%, tăng 2,41% (chỉ tiêu Nghị quyết đến năm 2020 là 42,13%); khu vực nông nghiệp 41,04%, giảm 3,94% (chỉ tiêu Nghị quyết đến năm 2020 là 40,65%). Nguồn vốn đầu tư các công trình, dự án tăng lên; các dự án động lực, một số dự án hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu được triển khai và đẩy nhanh tiến độ; chỉ số PAPI được cải thiện. Hầu hết các chỉ tiêu đề ra đến năm 2020 đều đạt được kết quả bước đầu tích cực, dự báo 17 chỉ tiêu đạt và vượt theo tiến độ, 5 chỉ tiêu gần đạt. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục có sự chuyển biến tích cực: Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên (có 159/291 trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia); cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế đã và đang được đầu tư, nâng cấp; 99,3% hộ dân được sử dụng điện; công tác tác chăm lo cho gia đình chính sách, người có công với cách mạng được quan tâm (hơn 98% gia đình chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư trong cùng địa bàn), xây dựng và sửa chữa 6.473 căn nhà (cả hai giai đoạn theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg) cho người có công với cách mạng, hỗ trợ 2.480 căn nhà cho hộ nghèo (theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg); thực hiện có hiệu quả các chương trình, mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới (trao vốn, phương tiện sản xuất cho 15.285 hộ với số tiền gần 52 tỷ đồng; vận động quỹ vì người nghèo - an sinh xã hội được hơn 202 tỷ đồng), cuối năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn dưới 5% (bình quân giảm 3,5%/năm)…

Năm 2018, Đảng bộ tỉnh đã đánh giá kết quả thực hiện năm trụ cột phát triển kinh tế - xã hội để tiếp tục chỉ đạo thực hiện. Theo đó, về nông nghiệp, mà trọng tâm là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất tôm, lúa gạo: Tỉnh đã tập trung đẩy mạnh thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới, quan tâm đầu tư hạ tầng; đẩy mạnh việc triển khai ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả (nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao; xây dựng được 21 cánh đồng lớn trồng lúa với diện tích hàng 100ha/1 cánh đồng; triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật dự án Khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu). Về công nghiệp, trong đó tập trung phát triển năng lượng tái tạo gồm điện gió, điện mặt trời và điện khí: Năm 2018 dự án nhà máy điện gió Bạc Liêu khai thác lượng điện ước đạt trên 256 triệu kWh, các dự án điện gió và điện mặt trời khác đang tiếp tục triển khai; đặc biệt tỉnh đã thu hút được dự án nhà máy Điện khí LNG Bạc Liêu quy mô công suất 3.072 MW với tổng vốn đầu tư 3,625 tỷ USD. Phát triển du lịch: Lĩnh vực du lịch tiếp tục phát triển mạnh, hạ tầng các khu, điểm du lịch được quan tâm đầu tư và kêu gọi thu hút các nhà đầu tư.

Về phát triển thương mại dịch vụ, giáo dục, y tế chất lượng cao: Hoạt động thương mại tiếp tục có những chuyển biến tích cực, kêu gọi được nhiều dự án trung tâm thương mại. Tỉnh đang tập trung thu hút mời gọi đầu tư xã hội hóa giáo dục, trong đó trọng tâm là 3 dự án (trường mầm non, trường tiểu học chất lượng cao…). Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng, đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển y tế ngoài công lập… nhằm huy động nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe của người dân. Trong lĩnh vực phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh, tỉnh đang thực hiện các thủ tục mời gọi, xúc tiến đầu tư xây dựng Cảng biển Gành Hào (đã được bổ sung vào hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030); nâng cấp, mở rộng Cảng cá Gành Hào đạt quy mô cảng cá loại 1, xây dựng neo đậu tránh trú bão… Những nội dung trọng tâm tạo sự chuyển biến của địa phương, Đảng bộ tỉnh tiếp tục xác định 5 trụ cột trên là mục tiêu cần tập trung chỉ đạo xuyên suốt từ nay đến cuối nhiệm kỳ.

Kết quả trên là sự nỗ lực phấn đấu, hợp lực của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh; có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy cùng với việc thường xuyên thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của UBKT các cấp, trong đó có vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát và chỉ đạo nghiệp vụ của UBKT Trung ương mà trực tiếp là Vụ Địa phương VII và các đồng chí Thành viên Ủy ban phụ trách. Qua đó đã góp phần kịp thời chấn chỉnh, ngăn ngừa sai phạm, lệch lạc, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong quản lý, điều hành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, các cấp ủy đã kiểm tra 837 tổ chức đảng và 948 đảng viên; giám sát 416 tổ chức đảng và 28 đảng viên. UBKT các cấp kiểm tra 11 tổ chức đảng và 132 đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, kết luận 8 tổ chức đảng và 109 đảng viên có vi phạm; kiểm tra 439 tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, phát hiện 69 tổ chức đảng còn một số hạn chế; giám sát chuyên đề 58 tổ chức đảng và 20 đảng viên, phát hiện chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 3 đảng viên; giải quyết tố cáo liên quan đến 74 đảng viên, kết luận tố đúng và đúng một phần 50 trường hợp, trong đó 10 trường hợp có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật. Đảng bộ thi hành kỷ luật 287 đảng viên: Khiển trách 134, cảnh cáo 102, cách chức 13, khai trừ 38 đảng viên.

Với sự nỗ lực và quyết tâm của Đảng bộ và hệ thống chính trị, tỉnh Bạc Liêu bên cạnh việc làm tốt công tác xây dựng Đảng đã tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những kết quả trên thực tiễn đạt được đã khẳng định rõ nét vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh các nhiệm kỳ đã đề ra, để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống và xây dựng tỉnh Bạc Liêu phát triển vững mạnh./.

Trịnh Nhất